Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Công trình khoa học"

Hành vi lạ lùng của vi khuẩn với protein nhân tạo

By Anonymous →
Blog Sinh học - Một cách tiếp cận để hiểu các thành phần trong các sinh vật sống là cố gắng để tạo ra chúng, bằng cách sử dụng các nguyên lý về hóa học, kỹ thuật và di truyền. Một bộ các kỹ thuật mạnh mẽ - gọi chung là sinh học tổng hợp - đã được sử dụng để sản xuất các phân tử tự sao chép, con đường nhân tạo trong hệ thống sống và các sinh vật mang bộ gene tổng hợp.

John Chaput, một nhà nghiên cứu tại viện Nghiên cứu thiết kế sinh học (Biodesign Institute)của trường Đại học bang Arizona và các đồng nghiệp tại Khoa Dược, trường đại học Midwestern, Glendale, AZ đã chế tạo một loại protein nhân tạo trong phòng thí nghiệm và kiểm tra những cách mà các tế bào sống đáp ứng với protein nhân tạo này.

"Nếu bạn lấy một protein đã được tạo ra trong ống nghiệm và đặt nó bên trong tế bào, nó vẫn hoạt động", Chaput hỏi. "Liệu tế bào có nhận ra nó hay không? Liệu tế bào chỉ cần “nhai” và đào thải nó ra"? Khu vực chưa được khám phá này đại diện cho một domain mới cho sinh học tổng hợp và cuối cùng có thể dẫn đến sự phát triển của các tác nhân điều trị mới lạ.

Các kết quả nghiên cứu, được trình bày trực tuyến trên tạp chí Sinh Hóa (ACS Chemical Biology), mô tả một khuynh hướng thích nghi đặc biệt của các tế bào vi khuẩn Escherichia coli khi tiếp xúc với một loại protein tổng hợp, được đặt tên là DX. Bên trong tế bào, các protein DX liên kết với các phân tử ATP. ATP là nguồn năng lượng mà tất cả các thực thể sinh học đều cần đến.

"ATP là dòng chảy năng lượng của sự sống", Chaput nói. ATP cung cấp năng lượng cho các phản ứng trong hệ thống sống, giải phóng ra năng lượng khi các liên kết này chia cắt hóa học. Sự suy giảm của ATP hiện hữu trong tế bào bởi DX gắn vào làm gián đoạn hoạt động trao đổi chất bình thường trong các tế bào, ngăn chặn sự phân chia tế bào, (mặc dù các tế bào vẫn tiếp tục phát triển).

Vi khuẩn Escherichia coli
Vi khuẩn Escherichia coli

Sau khi tiếp xúc với DX, vi khuẩn bình thường hình cầu E. coli phát triển thành các sợi dài. Trong giai đoạn các vi khuẩn này có dạng sợi, dày đặc các cấu trúc lipid trong tế bào hoạt động để phân vùng các tế bào trong khoảng thời gian thường xuyên dọc theo chiều dài của nó. Những cấu trúc không bình thường, mà các tác giả gọi endoliposomes, là một hiện tượng chưa từng có trong các tế bào đó.

"Một nơi nào đó dọc theo sợi vi khuẩn này, các quá trình khác bắt đầu xảy ra mà chúng tôi đã không hiểu đầy đủ ở cấp độ di truyền, nhưng chúng ta có thể xem kết quả thể hiện ở kiểu hình”, Chaput nói. "Những cấu trúc lipid dày đặc đang hình thành tại các khu vực rất ổn định dọc theo sợi tế bào và có vẻ như nó là một cơ chế bảo vệ, cho phép các tế bào tách biệt hóa chính nó". Sự thích ứng đặc biệt này chưa từng được quan sát thấy trong các tế bào vi khuẩn và xuất hiện duy nhất với một sinh vật đơn bào.

Sản xuất một loại protein tổng hợp như DX, có thể bắt chước các đặc điểm gấp phức tạp của protein tự nhiên và gắn với một chất chuyển hóa quan trọng như ATP là nhiệm vụ không dễ dàng, Chaput giải thích. Một chiến lược thông minh được gọi là trình tự mRNA được sử dụng để sản xuất, điều chỉnh và khuếch đại các protein tổng hợp có khả năng liên kết ATP với ái lực cao và độ đặc hiệu.

Đầu tiên, các bộ của các peptide chuỗi ngẫu nhiên được hình thành từ bốn axit nucleic DNA, từng chuỗi gồm khoảng 80 nucleotide. Sau đó các chuỗi được sao chép thành RNA với sự giúp đỡ của một enzyme - RNA polymerase. Nếu một ribosome tự nhiên sau đó được đưa vào, nó gắn các sợi và đọc chuỗi ngẫu nhiên RNA như thể nó là một RNA trong tự nhiên, tạo ra một protein tổng hợp khi nó di chuyển dọc theo chuỗi. Bằng cách này, các protein tổng hợp dựa trên chuỗi RNA ngẫu nhiên có thể được tạo ra.

Trong nghiên cứu này, các tế bào E. coli tiếp xúc với DX chuyển đổi thành một dạng sợi nhỏ. Các tế bào hiển thị hoạt động chuyển hóa thấp và giới hạn sự phân chia tế bào, có lẽ là do tình trạng thiếu ATP của chúng.

Nghiên cứu cũng kiểm tra khả năng phục hồi của E. coli sau khi gắn DX. Các tế bào lại trở về trạng thái không có dạng sợi của chúng sau 48 giờ, nhưng chúng mất khả năng sinh sản. Hơn nữa, điều kiện này rất khó để đảo ngược và dường như liên quan đến tái lập trình cơ bản tế bào.

Nghiên cứu cho thấy vẫn còn rất nhiều điều cần tìm hiểu về hành vi của vi khuẩn và các phản ứng của chúng khi các tế bào gặp phải tình huống mới lạ như một protein tổng hợp không quen thuộc. Nghiên cứu này cũng lưu ý rằng nhiều tác nhân truyền nhiễm dựa vào một trạng thái không hoạt động để tránh bị phát hiện bằng kháng sinh. Một sự hiểu biết tốt hơn về các cơ chế thúc đẩy hành vi này có thể cung cấp một phương pháp tiếp cận mới để nhắm mục tiêu các tác nhân gây bệnh như vậy.
Phạm Thị Bích Thu (Sciencedaily)

Phát minh ra một loại vải diệt khuẩn khi phơi nắng

By Anonymous →


Các nhà khoa học của Trường đại học California Davis (UC Davis) cho biết họ đã phát triển một loại vải mới mang tên 2-AQC có thể diệt khuẩn, chống các thuốc trừ sâu và các độc tố một khi được phơi nắng.

Loại vải mới bằng bông này có chứa một thành phần có thể dính vào sợi bông tốt hơn so với những thành phần chống vi khuẩn khác. Theo các nhà khoa học, thành phần này sẽ không làm thay đổi các đặc tính của sợi bông.


Mặc dù khó biết được khi nào người tiêu dùng sẽ mua các loại quần áo làm bằng vải 2-AQC,nhưng các nhà khoa học nghĩ rằng loại vải này đặc biệt thích hợp với các nhân viên y tế, các nhà nông nghiệp và các quân nhân.

Trong những năm qua, các sản phẩm kháng khuẩn và kháng sinh như xà phòng, tất ngắn, thớt, trò chơi cho trẻ em và bồn cầu được thiết kế phần lớn từ các chất như triclosan và tributyletain, đã tràn ngập thị trường thế giới. Thậm chí, hiện nay, người ta còn sử dụng cả các ion bạc kháng khuẩn trong máy giặt cũng như các chất khử mùi để chống vi khuẩn.

Tuy nhiên, nhiều người đang tự hỏi về những hậu quả của những sản phẩm này đối với môi trường và việc liệu chúng có làm tăng sức đề kháng của vi khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh hay không, đặc biệt là khuẩn cầu chùm.
Theo Vietnam+

Bệnh di truyền có ảnh hưởng đến IQ?

By Anonymous →

Không nhiều người thông minh như Einstein, nhưng có những địa phương mà người dân có chỉ số IQ cao hơn những nơi khác. Người ta không khỏi đặt câu hỏi vì sao?
Không nhiều người thông minh như Einstein, nhưng có những địa phương mà người dân có chỉ số IQ cao hơn những nơi khác. Người ta không khỏi đặt câu hỏi vì sao?
Những bệnh truyền nhiễm là yếu tố “cướp đi” một số lớn năng lượng dùng để phát triển bộ não. Có một giả thuyết cho rằng đó là nguyên nhân làm xuất hiện sự khác biệt giữa trí thông minh của con người.
Theo Livescience, một nghiên cứu cho thấy rằng một đứa trẻ mới ra đời cần tới 90% số calo của mình để tạo ra và vận hành bộ não. (Thậm chí khi đã trưởng thành, riêng bộ não bé nhỏ ấy vẫn tiêu thụ đến 1/4 tổng năng lượng của chúng ta). Nếu trong thời thơ ấu, khi bộ não đang hình thành lại xảy ra chuyện gì đó thì não cũng phải hứng chịu. Những bệnh truyền nhiễm là yếu tố “cướp đi” một số lớn năng lượng dùng để phát triển bộ não. Có một giả thuyết cho rằng đó là nguyên nhân làm xuất hiện sự khác biệt giữa trí thông minh của con người.
Rất nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số IQ trung bình khác nhau giữa dân tộc này và dân tộc khác cũng như trong cùng một dân tộc có sự khác nhau giữa địa phương này và địa phương khác. Các nhà khoa học đã bỏ ra nhiều năm tìm hiểu nguyên nhân. Trọng tâm của những cuộc thảo luận là yếu tố nào, di truyền hay môi trường sống hoặc cả hai ảnh hưởng lớn đến não.
Người ta cho rằng IQ cao hay thấp liên quan đến hàng loạt nguyên nhân: được học lúc nhỏ ở trường tốt hay không, trình độ học vấn, tình trạng sức khoẻ, vị trí công tác, tiền lương, nguy cơ béo phì… Tất cả là những điều phải cân nhắc.
Có sự khác biệt trong trí thông minh của những người ở vùng khác nhau?
Có sự khác biệt trong trí thông minh của những người ở vùng khác nhau? 
(Ảnh minh họa: Wordpress)
Nhiều nhà khoa học đã đề cập đến bức tranh IQ trên toàn cầu. Nigel Barber cho rằng IQ phụ thuộc chủ yếu vào trình độ học vấn. Donald Temper và Haroko Arikawa lý luận rằng khí hậu nơi nào càng lạnh, càng khó sống, phải cố gắng để tồn tại làm IQ tăng lên. Satoshi Kanazawa đặt giả thiết sự tiến hoá buộc IQ phải cao ở những vùng xa với nguồn gốc tiến hoá của loài người: vùng hạ Sahara của châu Phi. Một giả thuyết khác: Tổ tiên của chúng ta nếu chỉ ở nguyên một chỗ chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều, nhưng nếu di cư đi tìm nơi ở mới, gặp các môi trường đầy thách thức thì trí thông minh buộc phải tiến hoá hơn để sống còn. Điều này xem ra có vẻ hợp lý hơn cả.
Năm 2010, người ta phát hiện sự phụ thuộc mạnh mẽ giữa IQ và các bệnh truyền nhiễm bằng những so sánh thống kê giữa 2 yếu tố này ở các vùng khác nhau trong các thời đại khác nhau và đi đến kết luận: Bệnh truyền nhiễm có thể là cơ sở quan trọng duy nhất để dự đoán chỉ số IQ trung bình.
Giả thuyết dường như không chỉ đúng ở các quốc gia, các vùng địa lý mà còn đúng với các cá nhân. Có những nghiên cứu chứng minh trẻ em nhiễm giun sán đường ruột khi trưởng thành có chỉ số IQ thấp. Một nghiên cứu khác chỉ ra tại nhiều vùng ở Mehico, chỉ số IQ trung bình tăng lên sau khi xoá được bệnh sốt rét. Các nghiên cứu ở các quốc gia khác cũng khẳng định điều này.
Tại Mỹ, IQ trung bình thay đổi theo từng tiểu bang (người dân ở các bang Massachusetts, New Hampshire và Vermont có IQ ở mức cao, còn ở bang California, Louisiana và Mississippi có IQ ở mức thấp). Bệnh truyền nhiễm là cơ sở quan trọng để dự báo chỉ số IQ và đúng với số liệu điều tra. Năm bang có chỉ số IQ thấp nhất đều là 5 bang có tỷ lệ bệnh truyền nhiễm cao nhất.
Cho tới nay, các dẫn chứng đều đưa đến kết luận bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân đầu tiên làm thay đổi trí thông minh của con người trên toàn cầu. Vì đây là một nhân tố “động” (có thể thay đổi được) hơn là nhân tố di truyền nên là một tin tốt lành cho những ai có ý định xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, liên quan đến chỉ số IQ (vì nếu chỉ tính đến yếu tố di truyền thì khó mà thay đổi được IQ).
Vấn đề còn lại là tìm hiểu bệnh truyền nhiễm nào có ảnh hưởng nhất đến phát triển bộ não.
Theo Livescience, Vietnamnet

Sản xuất vải từ… sữa

By Anonymous →
Một nhà thiết kế thời trang Đức dùng protein sữa nồng độ cao để tạo ra loại vải mềm rất có lợi cho sức khỏe.

Protein trong vải QMilch do nhà thiết kế kiêm nhà vi trùng học Anke Domaske (28 tuổi, đến từ thành phố Hanover) sản xuất chứa nhiều amino acid nên có tác dụng diệt khuẩn, chống lão hóa, điều hòa tuần hoàn máu và nhiệt độ cơ thể.

Nhà thiết kế Domaske dùng sữa tạo ra tơ sữa và sợi chỉ. (Ảnh: Reuters)
Vì vậy, QMilch còn có thể được dùng để sản xuất thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm…

“QMilch mềm mượt giống như lụa và không có mùi. Bạn có thể giặt như những loại vải khác”, bà Domaske nói.

QMilch cũng là loại sợi nhân tạo đầu tiên được sản xuất mà không dùng hóa chất.

Sợi sữa được sản xuất đã lâu nhưng phải dùng đến rất nhiều hóa chất có hại cho môi trường. Trong khi đó, QMilch được làm hầu như hoàn toàn bằng casein - tên của một nhóm protein chủ yếu trong sữa.

Casein được chiết xuất từ sữa bột khô, rồi đun nóng các vật liệu thiên nhiên khác để protein quện chặt, không thể phân hủy. Cuối cùng, máy se sợi sẽ biến các tơ sữa thành sợi chỉ.

Theo bà Domaske, mất khoảng 6 lít sữa để làm ra một chiếc áo váy giá trên dưới 200 USD (4 triệu VND).

Nhãn hiệu thời trang của bà Domaske là Mademoiselle Chi Chi bắt đầu dùng Qmilch và một số loại sợi vải khác để sản xuất quần áo.

Bà Domaske dự định làm bộ sưu tập làm hoàn toàn bằng sợi sữa.

Tuệ Nhi (Theo Reuters)

Thành phố nổi có 11 boong tàu, 4 sàn trực thăng

By Anonymous →

Một công ty Anh tin rằng tòa nhà nổi trên nước, có 11 boong tàu, một khu vực quan sát 360 độ, 4 sàn trực thăng, bến tàu riêng và một vài hồ bơi có thể là nơi con người trú ngụ trong tương lai.

Thiết kế có tên gọi "Dự án Utopia", được giới thiệu tại triển lãm du thuyền Monaco.
Dự án Utopia giống một thành phố nổi hơn là một con tàu.
Dự án Utopia giống một thành phố nổi hơn là một con tàu.
Công ty thiết kế BMT Nigel Gee tới từ Southampton, Hants, Anh hiện vẫn chưa tiết lộ chi phí chi cho việc xây dựng "hòn đảo" nổi này và đối tượng khách hàng nhắm đến của họ là ai.
Di chuyển với tốc độ chậm, du thuyền đặc biệt này trải dài 65 mét trên bề mặt biển. Tầng trên cùng có cả cửa hàng, quán bar và nhà hàng, được bao phủ bởi một mái vòm có thể kéo ra kéo vào.
Dự án Utopia giống một thành phố nổi hơn là một con tàu.
Giám đốc Công ty Thiết kế Du thuyền James Roy tin rằng tòa nhà nổi này có thiết kế khác hoàn toàn với kiến trúc hải quân truyền thống. “Những phiên bản của tương lai thường bị hạn chế bởi sự quen thuộc với hiện tại hoặc là sự phản ánh của quá khứ”, James Roy nói.
James Roy cho biết thêm: “Khi cho rằng du thuyền là một hình thức vận tải, nó sẽ bị ràng buộc trong thiết kế ngay lập tức. Utopia không phải là thứ để đi chuyển. Nó là nơi để ở, hoạt động như một hệ thống neo đậu”.
Theo Bee

Những công trình tàn nhẫn nhân danh khoa học

By Anonymous →

Trong những năm 1940, khoảng 1.300 tù nhân, bệnh nhân tâm thần và gái mại dâm Guatemala đã bị một số bác sĩ Mỹ cho nhiễm giang mai, lậu và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.
Đây không phải là lần đầu tiên, con người bị sử dụng làm công cụ trong những thí nghiệm như vậy.

Cả làng phát điên

Báo cáo do Ủy ban nghiên cứu các vấn đề đạo đức sinh học của Tổng thống Mỹ công bố đầu tuần này gọi sự kiện nói trên là "một chương đen tối trong lịch sử y học của chúng ta". Cách mô tả này có lẽ còn là quá nhẹ đối với những gì mà một số nhà khoa học Mỹ đã làm với những đối tượng nghiên cứu người Guatemala. Họ không hề được cho biết mình bị sử dụng vì mục đích gì và trong số những người bị nhiễm, chỉ có hơn một nửa được cho dùng một loại thuốc nào đó để điều trị.
Khoảng 1.300 người Guatemala đã bị một số nhà khoa học Mỹ cho nhiễm giang mai để nghiên cứu.
Khoảng 1.300 người Guatemala đã bị một số nhà khoa học
Mỹ cho nhiễm giang mai để nghiên cứu.
Sự kiện này làm người ta nhớ đến hàng loạt các thí nghiệm phi đạo đức khác mà Mỹ đã tiến hành với con người. Dự án MKULTRA mà Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA tiến hành trong những năm 1950 là một ví dụ. Hàng nghìn người, dù không tình nguyện và không được thông báo, đã bị bí mật cho dùng các loại thuốc hướng thần và chất gây nghiện, bao gồm cả LSD. Nhiều nạn nhân đã bị hủy hoại nặng nề về tâm thần.
Năm 1953, một trong số này, Frank Olson, chuyên gia vũ khí sinh học của Chính phủ Mỹ đã tự sát vì trầm cảm. Theo báo Anh The Daily Telegraph, một thí nghiệm tương tự cũng được CIA tiến hành tại một làng nhỏ miền Nam nước Pháp.
Chỉ trong vài tháng của năm 1951, hàng trăm người ở đây đột nhiên xuất hiện các biểu hiện bất thường về thần kinh, ảo giác. Ít nhất 5 người đã chết, hàng chục người phải vào bệnh viện tâm thần. Phóng viên điều tra người Mỹ H P Albarelli Jr cho rằng, CIA đã trộn thuốc gây ảo giác vào bánh mỳ và một số thực phẩm của người dân địa phương.

Trẻ không tha

Đứng đằng sau các thí nghiệm phi đạo đức không chỉ là CIA hay các tổ chức nghiên cứu của quân đội mà còn có một số nhà khoa học làm việc cho các đại học hàng đầu nước Mỹ.
Năm 1971, để trả lời câu hỏi liệu một con người sẽ biến đổi như thế nào sau 2 tuần nằm trong trại giam, Philip Zimbardo, giáo sư tâm lý thuộc Đại học Stanford đã tuyển 24 sinh viên, trả mỗi người 15 đôla một ngày rồi chia họ thành 2 nhóm, tù nhân và cai ngục. Họ được đưa vào một môi trường giả định giống hệt nhà tù.
Những người đóng cai ngục được dạy một số biện pháp trấn áp tù nhân. Họ nhanh chóng quên đi những thói quen, cách hành xử bình thường ngoài xã hội, trở nên cứng rắn đến mức tàn nhẫn. Còn tù nhân thì suy sụp. Thí nghiệm buộc phải kết thúc sớm hơn kế hoạch 1 tuần. Nhưng hậu quả của nó đối với những người tham gia thì kéo dài hơn rất nhiều so với dự liệu của tác giả.
Không chỉ người lớn, mà trẻ em cũng bị biến thành vật thí nghiệm. Năm 1920, để nghiên cứu về cảm giác sợ hãi và tác động của phương pháp điều kiện hóa cổ điển, John B. Watson (Đại học Johns Hopkins) đã sử dụng một em bé mới 9 tháng tuổi. Ông ta cho em bé tiếp xúc với một số con vật như thỏ, chuột và đồ chơi để thăm dò phản ứng. Khi thấy bé không tỏ ra sợ hãi, nhà nghiên cứu đã tạo ra những tiếng động mạnh và bất ngờ mỗi khi bé định chạm vào các đồ vật làm "mồi nhử".
Kết quả thu được đúng như Watson mong đợi: Cậu bé khóc thét mỗi lúc nghe tiếng động và không dám chạm vào bất cứ thứ gì được đưa ra. Nhưng đối tượng thí nghiệm thì không may mắn như vậy. Watson đã không thể làm gì để khắc phục ảnh hưởng mà nghiên cứu tàn nhẫn này đã gây ra trước khi nó bị buộc phải chấm dứt.
Theo Bee

Dự án thủy điện Đồng Nai bị giới khoa học "mổ xẻ"

By Anonymous →

Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên nước vừa có đơn đề nghị các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đánh giá lại tác động môi trường của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trước khi xây dựng.
Trong Quy hoạch phát triển điện quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7 năm nay, một số dự án thủy điện gây ra nhiều tranh cãi trong giới khoa học, trong đó có dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Theo các nhà khoa học, sự phát triển ồ ạt của các công trình thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai trong những năm qua đã tác động tới tài nguyên nước và đa dạng sinh học của các vùng đầu nguồn sông Đồng Nai trong tình trạng báo động. Trong khi chưa có bản đánh giá đầy đủ về tác động môi trường từ công trình thủy điện ở đây.
Do đó, các nhà khoa học đã gửi đơn kiến nghị yêu cầu đánh giá lại toàn diện những tác động môi trường, xã hội của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, xây dựng và hoàn thiện chương trình quản lý môi trường với các giải pháp công khai cho công chúng, các bên liên quan được biết.
Họ cũng đề nghị dừng lại các hoạt động cấp phép đầu tư xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A để chờ kết quả đánh giá tác động môi trường sau đó mới quyết định tiếp tục triển khai hay không.
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, các nhà khoa học yêu cầu phải thành lập một hội đồng tư vấn quốc gia để thực hiện nhiệm vụ giám sát và đánh giá tính khả thi của hai dự án thủy điện Đồng Nai.
Theo các nhà khoa học, thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ tác động lớn tới Vườn quốc gia Cát Tiên. (Ảnh: Luxury Travel)
Theo các nhà khoa học, thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ
tác động lớn tới Vườn quốc gia Cát Tiên. (Ảnh: Luxury Travel)
Trong hội thảo về Quản lý tổng hợp rừng đầu nguồn và khu vực sông Đồng Nai vừa qua, hầu hết các nhà khoa học đồng tình nên xem xét tiến hành điều tra, đánh giá tác động môi trường một cách khách quan, khoa học.
Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, đại học Cần Thơ cho rằng không nên xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. "Bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của hai dự án này là Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long Gia Lai rất sơ sài, thiếu căn cứ, chưa đánh giá hết tác động tiêu cực đến môi trường", tiến sĩ Tuấn nói.
Cũng theo tiến sĩ Tuấn, hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A xây dựng sẽ làm ảnh hưởng đến Bàu Sấu - khu Ramsar (khu dự trữ sinh quyển ngập nước) nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên. Các tổ chức quốc tế sẽ xem xét và có thể rút lại quyết định công nhận khu Ramsar. Mặt khác, danh hiệu khu dự trữ sinh quyển vườn quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận năm 2001 cũng có thể bị xem xét lại.
Bà Phạm Thị Cẩm Nhung, điều phối viên chính sách của tổ chức WWF, cho biết xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là xâm phạm đến Vườn quốc gia Cát Tiên và các khu rừng nguyên sinh, làm xáo trộn cuộc sống của loài động vật quý hiếm ở đây.
Để giải quyết nhu cầu năng lượng, tiến sĩ Tuấn cho rằng không nhất thiết cứ phải phát triển thủy điện, mà cần tận dụng nguồn thay thế như điện hạt nhân, năng lượng mặt trời.
Trong quy hoạch khai thác bậc thang thủy điện sông Đồng Nai được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2002, dự kiến công trình thủy điện Đồng Nai 6 có công suất lắp máy 180MW, sản lượng điện bình quân 773,6 triệu kWh/năm, diện tích bị ngập gần 2.000 ha, trong đó 732 ha thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên, phần còn lại thuộc rừng phòng hộ 2 tỉnh Đắk Nông, Bình Phước, phải di dời 3 công trình công cộng và 33 hộ dân.
Giữa năm 2007, Tập đoàn Đức Long Gia Lai xin đầu tư dự án này. Quá trình nghiên cứu, lựa chọn phương án tối ưu đã thay đổi dự án thành công trình thủy điện 2 bậc thang mang tên Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A với tổng công suất 241 MW, tổng mức đầu tư gần 5.700 tỷ đồng, tổng sản lượng điện gần 1 tỷ kWh/năm.
Theo Vnexpress

Xét nghiệm giới tính của thai nhi tuần thứ 7 qua xét nghiệm máu thai phụ

By Anonymous →

Xét nghiệm máu của thai phụ có thể giúp chỉ báo sớm các bệnh có liên quan đến giới tính như bệnh máu không đông, tăng sản thượng thận bẩm sinh.
Xét nghiệm máu của thai phụ có thể giúp chỉ báo sớm các bệnh có liên quan đến giới tính của thai nhi.Xét nghiệm máu của thai phụ có thể giúp chỉ báo sớm các bệnh có liên quan đến giới tính của thai nhi.(Ảnh: Inmagine)
Các nhà nghiên cứu cho biết một xét nghiệm máu đơn giản có thể dự báo giới tính của thai nhi từ tuần thứ 7 của thai kỳ. Vì đây là một xét nghiệm không ảnh hưởng tới thai nhi nên không gây nguy cơ sẩy thai như các phương pháp xác định giới tính khác. Theo nhóm nghiên cứu Mỹ, xét nghiệm này hoạt động bằng cách tìm kiếm nhiễm sắc thể Y trong máu người mẹ, nếu không phát hiện thấy nhiễm sắc thể Y thì người mẹ sẽ sinh con gái.
Mặc dù xét nghiệm này có thể chỉ báo giới tính của thai nhi với độ chính xác cao song mục đích chính của xét nghiệm là phát hiện các bệnh có liên quan đến giới tính như bệnh máu không đông (thường xảy ra ở các bé trai), tăng sản thượng thận bẩm sinh khiến bộ phận sinh dục phát triển không bình thường. Việc phát hiện sớm những bệnh này có thể giúp ích cho việc điều trị.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Association ngày 10-8.
Theo TNO