Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Ôn tập KT"

“Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu.” Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên

By Sáng →

    GỢI Ý CHẤM CỦA BÁO GIÁO DỤC.

Giới thiệu được luận đề cần giải quyết
2.      Giải quyết vấn đề
a.       Giải thích:
+ Giải thích từ ngữ:
-         Kẻ cơ hội là người nhanh chóng nắm bắt hoàn cảnh hoặc điều kiện thuận lợi để thực hiện một mục tiêu nào đó.
-         Nôn nóng: thái độ vội vàng, muốn nhanh chóng đạt được kết quả
-         Người chân chính: người có những suy nghĩ và việc làm nghiêm túc, có đạo đức, có mục tiêu tốt đẹp theo đúng chuẩn mực của xã hội; đạt đến thành công bằng chính năng lực của mình.
-         Kiên nhẫn: quyết tâm, bền chí để đạt được mục tiêu đã xác định.
-         Thành tích, thành tựu: kết quả tốt đẹp cuối cùng của một quá trình suy nghĩ và làm việc.
+ Giải thích ý nghĩa cả câu:
Ý kiến trên cho thấy kẻ cơ hội và người chân chính đều muốn có những kết quả tốt đẹp cho việc làm của mình nhưng kẻ cơ hội thì vội vàng, còn người chân chính thì kiên nhẫn. Câu nói có phần phê phán thái độ nôn nóng, vội vàng, mặt khác khẳng định sự kiên nhẫn của người chân chính.
b.      Bàn luận:
-         Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích:
+ Có ý kiến cho rằng “Đời người có ba thứ qua đi không lấy lại được là tuổi trẻ, thời gian và cơ hội”. Cơ hội chỉ xuất hiện trong một thời điểm nhất định, nếu không biết nắm bắt, nó sẽ vuột mất. Vì vậy, kẻ cơ hội rất nôn nóng trong việc vận dụng điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu của mình.
+ Đời người có thể có nhiều cơ hội nhưng các cơ hội ấy không giống nhau, vì vậy một khi cơ hội qua đi sẽ không đạt được kết quả như ý.
+ Kẻ cơ hội hiểu rất rõ sự bất ổn này nên có thể dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn để đạt được kết quả (dẫn chứng).
-         Người chân chính thì kiên nhẫn để đạt được thành tựu:
+ Người chân chính cũng biết nắm bắt cơ hội nhưng không đạt được mục tiêu bằng bất cứ giá nào như kẻ cơ hội. Nếu thất bại, người chân chính sẽ đứng lên từ chính chỗ thất bại ấy để làm lại từ đầu.
+ Người chân chính thường làm việc với một lý tưởng phù hợp với những chuẩn mực của xã hội nên có sự bền chí, quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu.
+ Người chân chính xem cơ hội là phương tiện chứ không phải là cứu cánh trong việc thực hiện mục tiêu. Do vậy, họ có lòng kiên trì, theo đuổi mục tiêu cho đến cùng, chứ không dựa dẫm, không dùng thủ đoạn (dẫn chứng).
c.       Mở rộng:
Ý kiến này giúp ta phân biệt rõ thế nào là kẻ cơ hội và người chân chính. Mặt khác, nó cho thấy cách thực hiện mục tiêu của kẻ cơ hội và người chân chính rất khác nhau. Từ đó, ý kiến này có vai trò định hướng cho học sinh và thanh niên trong việc thực hiện ước mơ, theo đuổi mục tiêu của mình. Ta phải biết nắm bắt cơ hội nhưng cũng phải có lòng kiên nhẫn thì mới đạt được những thành tựu tốt đẹp, có ý nghĩa.
3.      Kết luận:
Rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân.

-----------------
Gợi ý làm bài của báo Tin tức VN 

Yêu cầu chung: phải có kết cấu của một bài văn dù ngắn (có giới thiệu vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn đề). Lí lẽ, mạch lạc lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phải có sức thuyết phục.

Ý thứ nhất - Giới thiệu vấn đề: xuất phát từ thực tế về “bệnh thành tích” đang là quốc nạn từ nhà trường cho đến ngoài xã hội để nêu vấn đề. (0,5đ)

Ý thứ hai – Giải quyết vấn đề: (1đ)
- Giải thích các khái niệm “kẻ cơ hội”“người chân chính”“nôn nóng”,“thành tích”“kiên nhẫn”, “thành tựu”“kẻ cơ hội” là kẻ lợi dụng thời cơ để kiếm lợi cho mình (chức vụ, tiền bạc.v.v.), người chân chính là người sống chân thực, đàng hoàng, chính đáng. Thành tích là kết quả mà chỉ căn cứ vào người làm việc báo cáo. Thành tựu là kết quả của quá trình làm việc có thực. Nôn nóng là tìm mọi cách để tạo ra thành tích một cách nhanh nhất, kiên nhẫn chỉ thái độ kiên trì nhẫn nại vượt qua mọi khó khăn để làm nên thành tựu.
- Kẻ cơ hội nôn nóng tạo ra thành tích bao giờ cũng gắn với mục đích không chính đáng, mục đích xấu, chỉ phục vụ cho quyền lợi của bản thân dẫn đến lừa dối xã hội, nhất là cấp trên. Nguy hại của bệnh thành tích là tạo nên một xã hội ảo, nền kinh tế ảo, làm suy sụp nhân cách (0,5đ)
- Người chân chính là người bao giờ cũng đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích của mình. Họ chính là người làm nên bộ mặt thật, đời sống thật , góp phần xây dựng xã hội từ các thành tựu của họ. Nhưng trước hết họ góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng đạo đức của xã hội. Trong thực tế hiện nay không thiếu những người chân chính nhưng sự quan tâm đến họ không phải nhiều. (0.5đ)

Kết luận:
Phải chống bệnh thành tích, nói không với bệnh thành tích (Trích: Nguyễn Thiện Nhân )

------------------

Hướng dẫn chấm của Bộ giáo dục

1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
Kẻ cơ hội là người lợi dụng thời cơ để mưu cầu lợi ích trước mắt, bất kể việc làm
đúng hay sai; người chân chính là người luôn biết sống đúng với thực chất và phù
hợp với những giá trị xã hội; thành tích là những kết quả được đánh giá tốt; thành
tựu là những thành quả có ý nghĩa lớn, đạt được sau một quá trình bền bỉ phấn đấu.
- Về nội dung, ý kiến này chỉ ra sự đối lập về lối sống và cách hành xử trong công
việc giữa loại người cơ hội và người chân chính.
0,5
2.
Bàn luận về ý kiến (2,0 điểm)
- Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích (1,0 điểm)
+ Do thói vụ lợi, bất chấp đúng sai nên trong công việc, kẻ cơ hội không cầu “kết
quả tốt” mà chỉ cầu “được đánh giá tốt”. Kẻ càng vụ lợi thì càng nôn nóng có được
thành tích. Bởi thế, loại người này thường chỉ tạo ra thành tích giả.
+ Về thực chất, cách hành xử ấy là lối sống giả dối, là thói ăn gian làm dối khiến cho
thật giả bất phân, làm băng hoại các giá trị trong xã hội; đó chính là sự suy đồi về
đạo đức; lối sống cơ hội này đã khiến bệnh thành tích lan tràn như hiện nay.
- Người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu (1,0 điểm)
Coi trọng chất lượng thật, kết quả thật là đức tính của người chân chính. Bởi thế
họ thường kiên nhẫn trong mọi công việc để làm nên những kết quả thực sự, những
thành quả có ý nghĩa lớn. Đối với họ, chỉ có những thành quả thực mới tạo nên giá
trị thực của con người, dù có khi phải trả giá đắt.
+ Về thực chất, cách hành xử ấy thuộc về lối sống chân thực, trung thực, biểu hiện
của những phẩm chất cao quý; giúp tạo nên những thành quả thực, những giá trị đích
thực cho mình và cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên.
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
- Cần nhận thức rõ đây là hai kiểu người đối lập nhau về nhân cách: một loại người
tiêu cực thấp hèn cần phê phán, một mẫu người tích cực cao cả cần trân trọng.
- Cần noi theo lối sống của những người chân chính, luôn coi trọng những kết quả
thật và kiên nhẫn phấn đấu để lập nên những thành tựu; đồng thời lên án lối sống cơ
hội, nôn nóng chạy theo thành tích giả.

Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.

By Sáng →

Gợi ý làm bài của giaoduc.edu.vn
·        Mở bàiĐặt vấn đề: Con người sinh ra được giáo dục để sống có ích, làm những điều tốt đẹp và hướng thượng. Thần tượng chính là một nét đẹp đầy hào quang và cao thượng để con người chiêm ngưỡng, tôn thờ và phấn đấu. Tuy nhiên, có nhiều người đã ngưỡng mộ thần tượng một cách mê muội và quên cả những nét đẹp chân chính, thiên liêng khác. Chính vì vậy, có người đã đưa ra ý kiến: “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”
·        Thân bài:
+ Giải thích: Thế nào là thần tượng? Thế nào là văn hóa? Thế nào là ngưỡng mộ thần tượng? Thế nào là nét đẹp văn hóa? Thế nào là mê muội thần tượng. Thế nào là một thảm họa?
+  Lý lẽ:
_ Thần tượng là một hình ảnh đẹp mà con người yêu mến, ngưỡng mộ và tôn thờ. Sự ngưỡng mộ thần tượng đã trở thành thói quen tập quán qua nhiều thế hệ, và hơn nữa, ngưỡng mộ thần tượng chính là một nét đẹp văn hóa của loài người.Có một thần tượng để chúng ta ngưỡng mộ và phấn đấu giúp chúng ta sống tốt hơn, đam mê hơn, yêu đời hơn và nỗ lực hơn. Nhiều người cùng ngưỡng mộ một thần tượng tốt có thể chia sẻ với nhau về sở thích, niềm vui và làm phong phú hơn đời sống tinh thần, làm con người cảm thấy gần gũi nhau hơn và thương yêu nhau hơn.
_ Tuy nhiên, có những hiện tượng tôn thờ thần tượng đến mê muội không phân biệt rõ đúng sai. Ví dụ như, có những người hôn cả đôi giày của thần tượng, và hôn cả chỗ ngồi của thần tượng, cũng như những hành động lố bịch khác xuất phát từ sự mê muội thần tượng. Có người mê muội đến nổi, có những việc làm sai của thần tượng cũng cho  là đúng. Từ đó dẫn đến những hành động sai trái, và hậu quả có thể làm mất nhân cách của chính mình. Và có những hành động gây nguy hiểm cho đồng loại. Có những người mê muội trước những thần tượng xa xôi mà quên đi những tình cảm thân thương, thiêng liêng bên cạnh mình, như cha mẹ, thầy cô, bạn bè. Sự mê muội thần tượng là một thảm họa, là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng; quên những nhiệm vụ cụ thể và đơn giản của một con người bình thường.
_ Dẫn chứng.
                  + Mở rộng:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
                  + Liên hệ thực tế:
_ Chúng ta khuyến khích và thông cảm những người ngưỡng mộ thần tượng một cách chính đáng và chừng mực. Coi việc ngưỡng mộ thần tượng một cách chân chính là một nét đẹp văn hóa cần được tôn trọng và duy trì.
_ Đồng thời, chúng ta phải kiên quyết lên án những kẻ mê muội thần tượng. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng sự mê muội thần tượng là một hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi. Do đó, chúng ta phải đủ bản lĩnh và kiên trì đấu tranh với những hiện tượng sai trái này.
·        Kết bài: Khẳng định rằng, ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa cần thiết cho tất cả mọi người và mê muội thần tượng là một thảm họa cần phải đấu tranh để hạn chế. Ý kiến trên là một lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta hãy tự nhìn lại mình, hiểu hơn chính mình và những thần tượng của mình; từ đó, có những suy nghĩ và hành động đúng đắn hơn
-----------------

HƯỚNG DẪN CHẤM CHÍNH THỨC CỦA BỘ GIÁO DỤC

1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
Ngưỡng mộ thần tượng là sự tôn kính, mến phục nồng nhiệt dành cho những đối
tượng được xem là hình mẫu lí tưởng hoặc có quyền năng đặc biệt, có sức cuốn
hút mạnh mẽ đối với cá nhân hay cộng đồng; mê muội thần tượng là sự say mê,
tôn sùng một cách mù quáng, thiếu tỉnh táo trước thần tượng.
- Về nội dung, ý kiến này đề cập đến tính hai mặt của việc say mê thần tượng: nếu
ngưỡng mộ đúng mức là tích cực, thì ngưỡng mộ quá mức là tiêu cực và có thể
còn gây ra hậu quả khôn lường.

2. Bàn luận về ý kiến (2,0 điểm)
Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa (1,0 điểm):
+ Ngưỡng mộ thần tượng thể hiện nhu cầu văn hóa cao của con người: nhu cầu
được sống trong những tình cảm cao cả, nồng nhiệt; nhu cầu được hướng tới,
vươn tới những tầm cao, những đỉnh cao sáng giá của đời sống.
+ Ngưỡng mộ thần tượng là một ứng xử văn hóa, biểu hiện ở các phương diện:
thái độ trân trọng mến phục; hành động tôn vinh cổ vũ; ngôn ngữ ca ngợi tán
dương.
- Mê muội thần tượng là một thảm họa (1,0 điểm):
+ Mê muội thần tượng là trạng thái mù quáng trong nhận thức, thái quá trong tình
cảm, không còn khả năng suy xét, phân biệt đúng sai, lẫn lộn về giá trị; mê muội
thần tượng còn dẫn đến hành động sai lầm quá khích, gây ra những hậu quả tệ hại
cho bản thân và xã hội.
+ Việc mù quáng chạy theo thần tượng hay khuyếch trương thần tượng quá mức
đều là biểu hiện của sự mê muội thần tượng, đều là những thái độ và ứng xử thiếu
lành mạnh, thậm chí thiếu văn hóa, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
- Cần có nhận thức đúng đắn về việc ngưỡng mộ thần tượng và lường được những
hậu quả của sự mê muội để có thái độ và cách ứng xử phù hợp, làm cho tâm hồn
phong phú hơn, nâng tầm văn hóa cho bản thân, từ đó phấn đấu vươn tới những
tầm cao của đời sống.
- Biết chế ngự những cảm xúc say mê thái quá trước thần tượng, không chạy theo
thần tượng một cách mù quáng; phê phán mọi biểu hiện mê muội thần tượng trong
cuộc sống hàng ngày, trước hết là trong học đường.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI 1 TIẾT HỌC KÌ II MÔN SINH HỌC 10

By Sáng →

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI 1 TIẾT HỌC KÌ II MÔN SINH HỌC 10

I- LÝ THUYẾT
Câu 1: Lập bảng so sánh giữa giảm phân và nguyên phân.
*Trả lời:
Nguyên phân
Giảm phân
Có một lần phân bào
Có hai lần phân bào liên tiếp
Không có sự tiếp hợp nên không có xảy ra trao đổi chéo của các NST kép tương đồng.
Có sự tiếp hợp và có thể xảy ra trao đổi chéo của các NST kép tương đồng ở đầu I.
Ở kì giữa, các NST kép xếp thành một hang ở mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào.
Ở kì giữa I, các NST kép xếp thành hai hang ở mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào.
Không có sự phân li độc lập và tổ hợp tự do đi về hai cực tế bào diễn ra ở kì sau.
Ở phân bào I, có sự phân li độc lập và tổ hợp tự do đi về hai cực tế bào diễn ra ở kì sau và khi kì cuối kết thúc hai tế bào con được tạo thành mang số lượng NST kép bằng một nửa của tế bào mẹ.
Khi nguyên phân kết thúc, có hai tế bào con được tạo thành mang bộ NST bằng bộ NST của tế bào mẹ.
Khi giảm phân kết thúc, có bốn tế bào con được tạo thành đều chứa bộ NST với số lượng bằng phân nửa của tế bào mẹ.

Câu 2: Tại sao quá trình giảm phân lại tạo ra được các giao tử khác nhau về tổ hợp các nhiễm sắc thể ?
*Trả lời:
Sự tiếp hợp và trao đổi chéo những đoạn tương đồng trên đó có kí hiệu các gen bằng chữ đã đưa đến sự hoán vị các gen tương ứng (alen) và tạo ra tái tổ hợp (sắp xếp lại) các gen không alen, là cơ chế tạo nên các loại giao tử khác nhau về tổ hợp gen, từ đó góp phần làm tăng biến dị tổ hợp.
Câu 3: Phân biệt 3 kiểu chuyển hóa vật chất : lên men, hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí.
*Trả lời:
- Lên men là sự phân giải kị khí cacbohiđrat, xúc tác bởi enzim trong đó chất nhận electron tận cùng là chất hữu cơ (glucozơ).
- Hô hấp hiếu khí là sự phân giải kị khí cacbohiđrat, xúc tác bởi enzim trong đó chất nhận electron tận cùng là $O_2$ (trong điều kiện có $O_2$)
- Hô hấp kị khí là sự phân giải kị khí cacbohiđrat, xúc tác bởi enzim trong đó chất nhận electron tận cùng là $NO^-_3$, $SO^{2-}_4$ hay $CO_2$.
Câu 4: Tại sao trâu bò lại đồng hóa được rơm, rạ, cỏ giàu chất xơ ?
*Trả lời:
Vì trong dạ cỏ của trâu, bò chứa có các vi sinh vật có khả năng phân giải xenlulozơ, hêmixenlulozơvà pectin trong rơm, rạ
Câu 5: Vang là một đồ uống quý và bổ dưỡng có đúng không? Vì sao?
*Trả lời:
Vang là đồ uống quý vì nó là rượu nhẹ có tác dụng kích thích tiêu hóa (nếu không uống nhiều quá) đồng thời cung cấp nhiều loại vitamin có sẵn trong dịch quả đã được nấm men hình thành trong quá trình len men.
Câu 6: Tại sao  người ta nói vang hoặc sâm-panh đã mở phải uống hết ?
*Trả lời:
Rượu vang hoặc sâm-panh đã mở thì phải uống hết, nếu không uống hết thì phần còn lại sẽ bị chua, bị nhạt theo thời gian vì rượu hoặc sâm-panh đã bị lên men axêtic nên biến chất.
Câu 7: Rượu nhẹ (hoặc bia) để lâu có váng trắng và vị chua gắt, để lâu nữa thì có mùi thối ủng. Hãy giải thích hiện tượng trên?
*Trả lời:
Rượu nhẹ (hoặc bia) để lâu bị lên men axêtic tạo thành dấm nên có vị chua, để nữa thì axit axêtic bị oxi hóa tạo thành $CO_2$ và nước làm cho dấm bị nhat đi.
Câu 8: Nếu sirô quả (nước quả đậm hoặc đường) trong bình nhựa kín thì sau một thời gian bình sẽ căng phòng. Vì sao?
*Trả lời:
Bình nhựa kín đựng sirô quả sau một thời gian bình có thể phồng lên vì vi sinh vật có trên bề mặt vỏ quả sau một thời gian đã tiến hành lên men giải phòng một lượng khí $CO_2$ làm căng phồng bình chứa dù hàm lượng đường rất cao.
Câu 10: Vì sao sữa chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái đặc sệt (đông tụ) và có vị chua khi làm sữa chua? Viết phương trình phản ứng và giải thích?
*Trả lời:
Sữa chua từ trạng thái lỏng sang trạng thái đặc sệt và có vị chua vì vi khuẩn lăctic đã biến đường trong sữa thành axit lăctic, đồng thời các protein phức tạp đã chuyển thành các protein đơn giản dễ tiêu sản phẩm axit và lượng nhiệt được sinh ra là nguyên nhân làm sữa đông tụ. Vì thế sữa chua có vị ngọt giảm hơn so với nguyên liệu sữa ban đầu, vị chua tăng lên và ở dạng đông tụ.
Câu 11: Người ta nói sữa chua là một loại thực phẩm rất bổ dưỡng có đúng không? Vì sao?
*Trả lời:
Vi trong sua chua co vi khuan lactic chung len men tao axit lactic lam cho sua chua co moi truong axit ma cac vi khuan co hai trong ruot nguoi lai sinh song tot o moi truong trung tinh.vi vay,khi an sua chua lam cho moi truong trong ruot chuyen thanh moi truong axit nen cac vi khuan co hai se duoc giam bot.mat khac,trong sua chua co rat nhieu cac vi sinh vat co loi cho he tieu hoa nen co the noi sua chua la loai thuc pham rat bo duong.
Câu 12: Khi muối dưa người ta thường cho them một ít nước dưa cũ, 1 – 2 thìa đường để làm gì? Tại sao khi muối dưa, người ta phải đổ ngập nước và nén chặt rau, quả?
*Trả lời:
Khi muối dưa người ta thường cho thêm một ít nước dưa cũ để cung cấp các vi khuẩn lăctic và làm giảm độ pH của môi trường tạo điều kiện cho vi khuẩn lăctic phát triển. Thêm 1 – 2 thìa đường để cung cấp thức ăn ban đầu cho vi khuẩn lăctic, nhất là với loại rau, quả dùng để muối dưa có hàm lượng đường thấp dưới 5%. Khi muối dưa người ta thường đổ ngập nước và nén chặt rau, quả để tạo điều kiện hiếu khí cho vi khuẩn lăctic phát triển đồng thời hạn chế được sự phát triển của vi khuẩn len men thối.
Câu 13: Khi muối dưa người ta có thể phơi dưa ở chỗ nắng nhẹ hoặc chỗ râm cho se mặt để làm gì?
*Trả lời: Trước khi muối dưa, người ta thường phơi rau, quả ở chỗ nắng nhẹ hoặc chỗ râm là vì rau, quả tươi mới thu hoạch còn chứa nhiều nước. Khi phơi dưới tác dụng của ánh sáng nước sẽ bay hơi làm cho rau quả se mặt, tạo điều kiện cho vi khuẩn lăctic hoạt động và hạn chế sự hoạt động của vi khuẩn lên men thối.
Câu 14: Rau, quả muốn làm dưa chua thì phải có điều kiện gì ? Nếu không đạt được điều kiện ấy phải làm như thế nào?
*Trả lời:
Rau, quả muốn làm dưa chua phải có hàn lượng đường trên 5 – 6 %. Nếu hàm lượng đường trong rau quả thấp hơn, người ta thường bổ sung thêm đường để thúc đẩy sự hoạt động của vi khuẩn lăctíc làm cho dưa chua.
Câu 15: Nếu dưa để lâu sẽ bị khú. Vì sao?
*Trả lời:
Dưa để lâu sẽ bị khú vì trong quá trình muối dưa tạo điều kiện cho vi khuẩn lăctic hoạt động, hàm lượng axit lăctic tăng dần đến một mức độ nào đó sẽ ức chế sự phát triển của vi khuẩn lăctic, lúc đó một loạt nấm men có thể phát triển được trong môi trường có độ pH thấp làm giảm hàm lượng axit lăctic, khi hàm lượng axit lăctic giảm đến một mức độ nhất định thì vi khuẩn gây thối có thể phát triển được và làm dưa bị khú.
Câu 16: Hãy nêu đặc điểm của 4 pha sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục.
*Trả lời:
1. Pha tiềm phát (pha lag): VSV đang trong thời kì thích ứng với môi trường sống, chưa phân chia nhưng tổng hợp mạnh mẽ axit nucleic và protein trong đó có các enzim.
2. Pha lũy thừa (pha log): VSV bắt đầu phân chia mạnh mẽ, số lượng tế bào tăng theo lũy thừa và đạt đến cực đại, thời gian thế hệ đạt tới hằng số, quá trình trao đỏi chất diễn ra mạnh mẽ nhất.
3. Pha cân bằng: Sinh trưởng cũng như chuyển hóa vật chất của tế bào giảm, số lượng tế bào chết cân bằng với số lượng tế bào sinh ra. Nguyên nhân là do chất dinh dưỡng bắt đầu cạn, một số chất độc được tích lũy ngày càng tăng (sản phẩm quá trình chuyển hóa vật chất: rượu, axit…) làm ức chế VSV
4. Pha suy vong: Số lượng của tế bào chết vượt quá số lượng của tế bào mới được tạo thành do chất dinh dưỡng cạn kiệt, chất độc hại tích lũy. Một số vi khuẩn chứa các enzim tự phân giải tế bào. Số khác có hình dạng tế bào thay đổi do thành tế bào bị hư hại.
II- BÀI TẬP
1.                  Quá trình nguyên phân từ 1 hợp tử ruồi giấm tạo được 8 tế bào mới.
a)      Xác định số đợt phân bào của hợp tử?
b)      Tính số NST, số tâm động, số crômatit ở 8 tế bào trên tại kì trung gian, kì giữa, kì sau và kì cuối (trước khi phân chia tế bào chất).
Giải:
a)   Số đợt phân bào của hợp tử là:
$2^x$ = 8
$\Rightarrow$ x = 3 (lần)
b)                      

NST đơn
NST kép
Crômatit
Tâm động
Kỳ trung gian
0
8*8
16*8
8*8
Kỳ giữa
0
8*8
16*8
8*8
Kỳ sau
16*8
0
0
16*8
Kỳ cuối
16*8
0
0
8*8
Kỳ cuối (đã phân chia tế bào chất)
8*8
0
0
8*8

Đề thi thử và hướng dẫn chấm văn 10 học kì I

By Sáng →


     SỞ GD &ĐT QUẢNG BÌNH                   KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2012 - 2013
TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH PHÙNG      Môn: Ngữ văn lớp 10, chương trình chuẩn
                   Đề thi thử                                       Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)    

Mã đề - 01
                                                                                                         
C©u 1. (2.0 ®iÓm):

          Chép lại ít nhất 4 câu ca dao có cụm từ mở đầu : “Thân em”.

C©u 2. (3.0 ®iÓm):
     
                 Hãy  viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: Học tập là cuốn vở không có trang cuối.

Câu 3. (5.0 điểm):
Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

























  

       SỞ GD&ĐT QUẢNG BÌNH                   KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2012 - 2013
TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH PHÙNG           Môn: Ngữ văn lớp 10, chương trình chuẩn
                       Đề thi thử                                  Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)     

Mã đề - 02

Câu 2: (2,0 điểm).Nêu những đặc trưng cơ bản của phong cách ngông ngữ sinh hoạt? Hãy chỉ ra dấu  hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt biểu hiện trong câu ca dao sau:
                                 “ Mình về có nhớ ta chăng,
                                    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”
   
Câu 2: ( 3 điểm)
            Tóm tắt “ Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thuỷ” dựa theo nhân vật An Dương Vương trong khoảng 15 dòng.

Câu 3: ( 5 điểm)
            Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão.


























                                  ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM. Mã đề - 01

C©u 1 (2.0 ®iÓm):

- Học sinh có thể chép những câu ca dao có nội dung khác nhau nhưng phải đảm bảo yêu cầu bắt đầu mỗi câu bằng cụm từ “Thân em”.
- Chép  đúng mỗi câu đạt 0,5 điểm.
Lưu ý: Nếu học sinh mắc nhiều lỗi chính tả, từ ngữ... giáo viên trừ điểm từ 0,25; 0,5... đối với tất cả các câu.

C©u 2. (2.0 ®iÓm):

*Yªu cÇu vÒ kü n¨ng:
- Häc sinh biÕt c¸ch viết ®o¹n v¨n nghÞ luËn xã hội.
- DiÔn ®¹t lưu loát, m¾c Ýt lçi về chÝnh t¶, dïng tõ vµ ng÷ ph¸p.
*Yªu cÇu vÒ kiến thức:
Học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần hợp lí, thiết thực, chặt chẽ và có sức thuyết phục. Cần nêu bật được các ý sau:
- Giải thích ý kiến: Học tập là công việc suốt đời, không ngưng nghỉ.            (0,5 điểm)
- Bàn luận:
+ Vì sao phải học suốt đời? Vì biển học là vô cùng; học để nắm kiến thức khoa học, tự nhiên, xã hội và kĩ năng sống để áp dụng vào đời sống.                                    (1,0 điểm)
+ Học như thế nào? Học mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi phương pháp sao cho phù hợp với năng lực và điều kiện của bản thân; phải rèn luyện tính tự học.                  (1,0 điểm)
- Bài học: Cần xác định động cơ, thái độ và phương pháp học tập đúng đắn. (0,5 điểm)

Câu 3. (5.0 điểm):

*Yªu cÇu vÒ kü n¨ng:
- Häc sinh biÕt c¸ch viết  bµi nghÞ luËn v¨n häc.
- Bµi viÕt chÆt chÏ, hîp lÝ. Bè côc 3 phÇn râ rµng.
- DiÔn ®¹t chÝnh x¸c, tr«i ch¶y, giµu h×nh ¶nh, c¶m xóc.
- M¾c Ýt lçi chÝnh t¶, dïng tõ vµ ng÷ ph¸p.
* Yªu cÇu vÒ néi dung:
1. Giíi thiÖu ®­îc t¸c gi¶, t¸c phÈm                                                                (0,5 điểm)
2. Häc sinh ph©n tÝch c¸c ý sau ®Ó thÊy ®­îc quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra khỏi cái tầm thường, xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.
+ Câu 1,2 và 5,6: Vẻ đẹp cuộc sống, sinh hoạt ở Bạch Vân am của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
- Cuộc sống thuần hậu, nguyên sơ, đạm bạc của một lão nông tri điền giữa thôn quê
(mai, cuốc, cần câu);  sẵn sàng, chu đáo, không có gì cao sang (một) ->phong thái ung dung, thanh thản, tâm hồn sảng khoái, ngông ngạo trước  thói đời.                  (0,5 điểm)
- Con người nhàn hạ, thảnh thơi, vô sự, không bận chút cơ mưu tư dục (thơ thẩn); mặc kệ người đời, không bon chen, chạy đua danh lợi (dầu ai) -> khẳng định cách sống đã chọn - sống thanh cao, nhàn nhã.                                                                       (0,5 điểm)                                                                         
- Cuộc sống đạm bạc nhưng không khắc khổ, gắn với cuộc sống lao động đời thường: thanh nhã, thanh thản, thanh cao; tìm thấy mình trong đó. Mùa nào thức ấy - bức tranh tứ bình (Thu, Đông, Xuân, Hạ; măng trúc, giá , hồ sen, ao) ->chan hòa với thiên nhiên, trở về với thiên nhiên.                                                                                       (0,5 điểm)
+ Câu 3,4 và 7,8: Vẻ đẹp nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm:
- Tìm thấy sự thư thái của tâm hồn: về với núi rừng quê hương, về với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên, thoát ra khỏi vòng ganh đua của thói tục (nơi vắng vẻ) ->tâm hồn an nhiên, khoáng đạt.                                                                                        (0,5 điểm)
- Khẳng định phương châm sống (ta dại; người khôn) -> trí tuệ, tỉnh táo, hóm hỉnh, mỉa mai.
=> Quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung, hòa hợp với tự nhiên.                                                                                                       (0,5 điểm)
- Nhận ra công danh, phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. Cái tồn tại vĩnh hằng là tự nhiên, là nhân cách con người (phú quý, chiêm bao) -> từ bỏ chốn lao xao quyền quý để đến nơi vắng vẻ đạm bạc mà thanh cao.
=> Triết gia có trí tuệ uyên thâm, nắm vững lẽ biến dịch, hiểu thấu mọi quy luật của cuộc đời.                                                                                                           (0,5 điểm)
* Trong qu¸ tr×nh ph©n tÝch, c¶m nhËn, häc sinh biÕt khai th¸c nh÷ng yÕu tè nghÖ thuËt tiªu biÓu: bót ph¸p liệt kê: “mai, cuốc, cần câu”; điệp từ “một”;  nghệ thuật đối chỉnh (Thu - măng trúc, Đông - giá...); đối ngược (dại - khôn, vắng vẻ - lao xao); sử dụng điển tích; từ ngữ giản dị, triÕt lÝ;phn lớn là từ Thuần Việt; thể thơ...                      (1,0 điểm)
3. BiÕt c¸ch kÕt bµi hîp lÝ                                                                                   (0,5 điểm)                                    


     

























ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM. Mã đề - 02
C©u 1: ( 2,0 điểm)
- Yªu cÇu 1: Tr×nh bµy ®­îc 3 ®Æc tr­ng c¬ b¶n cña ng«n ng÷ sinh ho¹t:        (1,0 điểm)
+ TÝnh cô thÓ
+ TÝnh c¶m xóc
+ TÝnh c¸ thÓ
- Yªu cÇu 2: ChØ ra ®­îc dÊu Ên cña phong c¸ch ng«n ng÷ sinh ho¹t trong c©u ca dao
                      + Tõ ng÷ x­ng h«: nh- ta
                      + Ng«n ng÷ ®èi tho¹i: cã nhí ta ch¨ng
                      + Lêi nãi hµng ngµy ;  m×nh vÒ, ta vÒ…                                               (1,0 điểm)
Câu 2: ( 3điểm)
            * Yêu cầu chung
            - HS biết cách tóm tắt văn bản tự sự
            - Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc
            - Đảm bảo yêu cầu về độ dài (khoảng 15 dòng)
            * Yêu cầu về nội dung
            - ADV xây thành Cổ Loa, xây lên lại đổ xuống.
            - Thần Kim Quy giúp xây xong thành và tặng nỏ thần.
            - ADV thắng Triệu Đà nhờ nỏ thần.
            - Trọng Thuỷ cầu hôn Mị Châu, ở rể tại Loa Thành và đánh tráo nỏ thần.
            - Triệu Đà cử binh sang đánh Âu Lạc , ADV thất bại, chạy trốn cùng Mị Châu.
            - Nhờ thần Kim Quy, ADV hiểu ra nguyên nhân, chém Mị Châu, ADV về thuỷ phủ cùng Kim Quy.
Câu 3: (5 điểm)
            Trên cơ sở các mức điểm đã định, giám khảo căn cứ vào nội dung trình bày và kỹ năng diễn đạt của học sinh để cho điểm tối đã hoặc thấp hơn.
            A. Yêu cầu về kĩ năng
- Yêu cầu 1: Biết cách làm một bài văn nghị luận.
- Yêu cầu 2: Bố cục bài làm rõ ràng, kết cấu hợp lí, hình thành và triển khai ý tốt.
-Yêu cầu 3: Diễn đạt suôn sẻ, mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
            B. Yêu cầu về nội dung và cách cho điểm.
            Lưu ý:
- Phần trong dấu [ ......] chủ yếu để định hướng cho người chấm; HS có thể trình bày, diễn đạt théo cách khác.
- Khác với phân tích ( phân tích văn bản một cách khách quan, đầy đủ các yếu tố nghệ thuật và nội dung) cảm nhận còn đòi hỏi người viết phải thể hiện được những ấn tượng và cảm xúc riêng của mình. Giám khảo căn cứ vào yêu cầu vừa nêu để có sự xem xét, cân nhắc khi đánh giá bài làm của học sinh.
            * HS có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách, miễn là đạt được các nội dung sau:
            1. Giới thiệu được tác giả và bài thơ                                                                     (0,5 điểm)
            2. Trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của con người thời Trần.                              (1,25 điểm)
                        + Tầm vóc: Kì vĩ, vũ trụ      (dẫn chứng chứng minh)
                        + Tư thế: Hiên ngang, kiên cường, kiêu dũng (Dẫn chứng chứng minh)
                        + Lí tưởng cao cả
Niềm tự hào của tác giả về trọng trách mà mình được đảm nhiệm, về tư thế hiên ngang, lẫm liệt của những người được giữ trọng trách đó, những tướng lĩnh và quân lính thời Trần.
            3. Vẻ đẹp thời đại.                                                                                                    (1,25 điểm)
            Sức mạnh của đội quân đang sục sôi khí thế hào hùng, dũng mãnh, tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân đội nhà Trần (Dẫn chứng chứng minh)
 Niềm tự hào, niềm tin của tác giả.
            4. Khát vọng hào hùng                                                                                              (0,5 điểm)
            Khát vọng lập công danh để thoả “chí nam nhi” cũng là khát vọng được đem tài “tận trung báo quốc” – thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông Á. (Dẫn chứng chứng minh).
            5. Cảm nhận về nghệ thuật                                                                                                  (1,0 điểm)
            - Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng.
            - Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc,
            6. Cảm nhận khái quát về ý nghĩa văn bản                                                            (0,5 điểm)