Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Cây lúa"

Đài Loan phát triển thành công gạo loại nhiều màu

By Anonymous →
Dưới sự hỗ trợ của chính quyền Đài Loan (Trung Quốc), Trạm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp huyện Hoa Liên đã phát triển thành công gạo có màu sắc khác so với gạo thông thường hiện nay, vốn chủ yếu có màu trắng.

Theo mạng tin focustaiwan.tw, trạm nghiên cứu trên đã dành ra 7 năm để phát triển công nghệ bổ sung thêm màu sắc tự nhiên cho gạo bằng cách sử dụng các loại rau.



Các nhà khoa học của trạm nghiên cứu này cho biết các loại gạo màu có thể tạo thêm sự hứng thú và độ ngon miệng cho người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em.

Từ xa xưa, các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ đã sử dụng các màu sắc tự nhiên như nghệ và các loại cỏ để tạo màu cho gạo.

Trạm nghiên cứu của Đài Loan nhấn mạnh việc sử dụng màu sắc tự nhiên của các loại rau để sản xuất gạo nhiều màu sắc là “rất an toàn và tạo được vị ngon".

Loại gạo màu không chỉ nhắm tới việc phục vụ các gia đình còn hướng tới các quán ăn muốn có những món ăn sáng tạo. Ngoài ra, loại thực phẩm này có thể được sử dụng để làm qua cho khách.

Trạm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp huyện Hoa Liên cho biết ban đầu, công nghệ này chỉ cho phép sản xuất gạo màu với khối lượng nhỏ. Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, trạm nghiên cứu đã tạo ra công nghệ giúp sản xuất đại trà loại gạo màu này.

Sau khi được cấp bằng sáng chế, trạm này đã chuyển giao công nghệ trên cho khu vực tư nhân. Mỗi ngày, khu vực này có thể sản xuất khoảng 2 tấn gạo màu.

Theo Vietnam+ 

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gene cây lúa

By Anonymous →
Một nhóm nghiên cứu của Trung Quốc và Nhật Bản vừa công bố một bản đồ hoàn chỉnh về các biến thể gene của cây lúa, nguồn cung cấp lương thực cho một nửa dân cư trên hành tinh.

Nghiên cứu cho thấy giống lúa chủ yếu hiện nay có nguồn gốc từ vùng châu thổ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc.

Nghiên cứu trên, được công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 3/10, là kết quả của quá trình phân tích tỉ mỉ mã di truyền ADN của hơn 1.000 giống lúa (bao gồm hai tiểu nhóm indica và japonica) và gần 500 giống lúa hoang (thuộc nhóm Oryza rufipogon), tổ tiên của các giống lúa đang trồng hiện nay.

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gene của cây lúa
Theo các nghiên cứu, đại đa số cây lúa được trồng hiện nay thuộc giống Oryza sativa L., được gọi chung là “lúa châu Á". Giống này được phân thành hai tiểu nhóm là indica và japonica.

Lúa thuộc tiểu nhóm japonica có hạt ngắn và dính (tức lúa nếp), trong khi tiểu nhóm indica có hạt dài và không dính (tức lúa tẻ).

Một điểm được các nhà nghiên cứu trong nhóm trên cùng nhất trí là giống lúa được trồng hiện nay có nguồn gốc từ giống lúa hoang Oryza rufipogon, cách đây hàng nghìn năm.

Tuy nhiên, nguồn gốc và quá trình thuần hóa giống lúa này vẫn còn là chủ đề tranh luận.

Về nguồn gốc của tiểu nhóm Oryza sativa japonica, tức là giống lúa ra đời đầu tiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giống lúa này được thuần hóa từ các cây lúa hoang ở miền Nam Trung Quốc, khu vực trung tâm đồng bằng sông Châu Giang, thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.

Tiếp đó, giống lúa thuộc tiểu nhóm japonica được lai với các loài lúa hoang tại miền Nam châu Á và Đông Nam Á để tạo thành các loại lúa thuộc tiểu nhóm indica.

Hiện tại, trên thế giới có khoảng 155 triệu hécta trồng lúa, sản xuất ra 720 triệu tấn lúa/năm, trong 90% là ở châu Á.

Theo một số dự đoán, để bảo đảm an ninh lương thực đối với một phần quan trọng của cư dân toàn cầu, sản lượng lúa phải tăng gấp đôi vào khoảng năm 2030 và cần phải phát triển các giống lúa có sản lượng cao hơn.

Ngoài hai tiểu nhóm giống lúa lớn kể trên, tại châu Phi còn một giống lúa với số lượng ít, có tên khoa học là Oryza glaberrima, thường được gọi là “lúa châu Phi”.
Theo Vietnam+

Gene giúp tăng năng suất và chất lượng gạo

By Anonymous →
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã xác định được một gene quan trọng trong hạt thóc có thể giúp tăng vượt trội đồng thời cả năng suất và chất lượng lúa.


Biến thể gene GW8 mới hứa hẹn một giống lúa mới tăng cả năng suất và chất lượng
Biến thể gene GW8 mới hứa hẹn một giống lúa mới tăng cả năng suất và chất lượng

Đầu tiên, các nhà khoa học tại Hàn lâm Viện Khoa học Xã hội (Trung Quốc) thực hiện nghiên cứu loại lúa Basmati từ Pakistan, một loại lúa gạo ngon nổi tiếng trên thế giới, và tìm thấy gene GW8 có ảnh hưởng lớn đến việc tăng chất lượng gạo. Gene GW8 còn có thể cải thiện cả hình dáng và màu sắc của hạt gạo.

Khi tiếp tục nghiên cứu gene GW8, các nhà khoa học còn phát hiện thấy gene này cũng tồn tại ở một số loại lúa cao sản trồng tại Trung Quốc. Nhưng nó là một biến thể gene GW8 khác, tuy không ảnh hưởng tới chất lượng song lại có vai trò trong trọng lượng hạt và tăng năng suất của lúa.

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã xác định được biến thể thứ ba của gene GW8 có thể kết hợp những ưu điểm của hai biến thể gene kia, hứa hẹn một giống lúa mới giúp tăng cả năng suất và chất lượng của lúa. Biến thể GW8 mới nếu được ghép vào loại lúa Basmati có thể giúp tăng năng suất 14% so với bình thường mà vẫn giữ nguyên được chất lượng gáo. Còn nếu ghép vào lúa cao sản ở Trung Quốc, nó có thể nâng cao đáng kể chất lượng hạt gạo và giữ nguyên năng suất.
Theo Đất Việt

Giống lúa mới chịu mặn

By Anonymous →
Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) vừa tổ chức đánh giá một số kết quả ban đầu khi lúa chuẩn bị vào vụ thu hoạch.



Đây là giống lúa được đưa vào thử nghiệm trong khuôn khổ dự án "Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đối khí hậu dựa vào cộng đồng" do SRD thực hiện.

Qua thời gian theo dõi và ý kiến của 17 hộ tham gia mô hình cho thấy, ruộng lúa thử nghiệm giống RVT đã và đang phát triển rất tốt, hạt sai và to. Sau gieo sạ, tỷ lệ nảy mầm trên 99% và sau 21-22 ngày, cây lúa bắt đầu đẻ nhánh và khả năng đẻ nhánh tốt, trung bình 4- 5 dảnh/khóm. Giai đoạn trổ bông- chín sau gieo sạ khoảng 88- 90 ngày cây lúa bắt đầu trổ, thời gian trổ khá tập trung (10- 12 ngày). Thời gian chín là 27- 28 ngày. Tổng thời gian sinh trưởng là 115- 120 ngày, tương đương với giống lúa Khang Dân. 

Phương Nguyên

Trồng thành công giống lúa ít hấp thu Cadmium

By Anonymous →
Tạp chí Plant Cell của Mỹ mới đây đưa tin, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Okayama, Nhật Bản đã trồng thành công một giống lúa hầu như không hấp thu kim loại nặng Cadmium, thông qua việc hạn chế vai trò của một gene trong cơ thể chúng.



Qua quá trình nghiên cứu cơ chế hấp thụ kim loại nặng trong đất của cây lúa, các nhà khoa học đã chú ý đến một gene có tên là Nramp5. Họ làm cho lớp vỏ ngoài của thân lúa và gene Nramp5 không phát huy tác dụng, sau đó đem trồng lúa tại những khu vực có nguồn đất bị ô nhiễm nặng. Kết quả cho thấy hàm lượng Cadmium trong hạt lúa sau khi thu hoạch chỉ chiếm 1/10 so với những cây lúa bình thường.



Tuy nhiên, nếu gene Nramp5 không phát huy tác dụng thì năng lực hấp thu nguyên tố mangan cần thiết cho sự sinh trưởng của cây lúa cũng giảm đáng kể. Điều này dẫn đến sản lượng thu hoạch của nó chỉ chiếm 20% so với thông thường.
Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo của các nhà nghiên cứu là cải tiến tổ hợp gene các loại lúa mới và thực hiện việc kiểm soát hấp thu nguyên tố kim loại của lúa.
Cadmium là một nguyên tố kim loại nặng, có độc tính. Những cư dân sống tại các khu vực bị nhiễm Cadmium sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm Cadmium do sử dụng những sản phẩm rau quả và lúa gạo sản xuất tại khu vực này.
Hiện bệnh đau xương là một trong bốn bệnh chính ở Nhật được chẩn đoán do nhiễm Cadmium gây ra.
Theo Vietnam+

Giáo trình Cây Lúa - Nguyễn Ngọc Đệ ( ĐH Cần Thơ )

By Anonymous →




Tiêu đề : Giáo trình Cây lúa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đệ
Chuyên ngành: Công nghệ ứng dụng khác ,Công nghệ sinh học
Nguồn phát hành: Đại học Cần Thơ
Sơ lược: Từ sau ngày giải phóng đến nay, Trường ĐH Cần Thơ đã cung cấp cho ĐBSCL hàng ngàn kỹ sư trồng trọt, hàng chục thạc sĩ, tiến sĩ và còn tiếp tục đào tạo hàng năm. Trong chương trình đào tạo, cây lúa bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể. Nhu cầu về một tài liệu chuẩn, cập nhật hóa và ĐBSCL hóa để sinh viên tham khảo là hết sức cần thiết. Do đó, bằng kiến thức và kinh nghiệm cá nhân và nỗ lực học hỏi ở đồng nghiệp, cộng với việc tra cứu sách báo, tài liệu trong và ngoài nước, chúng tôi cố gắng soạn thảo giáo trình nầy nhằm phục vụ yêu cầu trên.




Giống lúa “đẻ” ra hàng tỷ USD

By Anonymous →
Nông dân ở các nước Đông Nam Á đang thu hoạch giống lúa luân canh tăng vụ, có giá trị lên tới hơn 1.6 tỷ USD/ha/ năm.

Báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế Australia (IRRIA) đã cho biết như trên.

Chuộng” giống lúa năng suất cao. Ảnh: Agricorner.com
Bên cạnh đó, giống lúa mới của IRRIA đã làm tăng thêm thu nhập cho người nông dân ở các nước Đông Nam Á. Cụ thể, ở Việt Nam, người nông dân canh tác giống lúa này đạt 127 USD/ha, Indonesia 76 USD/ha và Philippines đạt 52 USD/ha.

Cùng với đó, các giống lúa nước của IRRIA không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà còn tăng sản lượng lúa gạo đối phó với sức ép gia tăng dân số toàn cầu. 

“Để tạo ra các giống lúa mới sản sinh ra hàng tỷ USD trên những cánh đồng lúa thì đòi hỏi các nhà khoa học nghiên cứu “đẻ ra” giống lúa có năng suất cao, thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt…”, ông Rudd Ngoại trưởng Australianhận định. 

V.Trường (Seoul Times)

Giáo trình Cây Lúa

By Anonymous →

Thông tin chi tiết sách

Giáo trình Cây Lúa

Tác giả:Nguyễn Ngọc Đệ
Dịch giả:Un Known
Kiểu file:PDF
Kích thước:10.6 MB
Download sách:  
Đọc sách online: 
Đến trang đánh dấu:
Sách nói về: Những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào thị trường lúa gạo quốc tế với sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm đứng thứ 2 – 4 trong số các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, đã góp phần quan trọng trong thành quả chung đó. 

Trường Đại Học Cần Thơ – “một Trung Tâm Văn hóa Khoa học và Kỹ thuật của ĐBSCL” đã có những đóng góp tích cực cho sản xuất lúa trong vùng, dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó chức năng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật cho ĐBSCL là hết sức quan trọng.

Từ sau ngày giải phóng đến nay, Trường đã cung cấp cho ĐBSCL hàng ngàn kỹ sư trồng trọt, hàng chục thạc sĩ, tiến sĩ và còn tiếp tục đào tạo hàng năm. Trong chương trình đào tạo, cây lúa bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể. 

Nhu cầu về một tài liệu chuẩn, cập nhật hóa và ĐBSCL hóa để sinh viên tham khảo là hết sức cần thiết. Do đó, bằng kiến thức và kinh nghiệm cá nhân và nỗ lực học hỏi ở đồng nghiệp, cộng với việc tra cứu sách báo, tài liệu trong và ngoài nước, chúng tôi cố gắng soạn thảo giáo trình nầy nhằm phục vụ yêu cầu trên.

Giáo trình nầy được phát triển dựa trên Giáo trình cây lúa đã được xuất bản trong Tủ sách Đại Học Cần Thơ năm 1994, có sửa chữa, bổ sung và cập nhật. Những thay đổi quan trọng là sự sắp xếp lại các chương hợp lý hơn, bổ sung chương “Phẩm chất
Mục lục

Chương 1: Vị trí kinh tế tình hình sản xuất và triển vọng của ngành lúa

Chương 2: Nguồn gốc và phân loại lúa

Chương 3: Hình thể học và sự sinh trưởng của cây lúa

Chương 4: Điều kiện khí hậu thuỷ văn

Chương 5: Đặc điểm sinh lý cây lúa

Chương 6: Sơ lược về lịch sử công tác cải tiến giống Lúa

Chương 7: Kỹ thuật canh tác Lúa

Chương 8: Thu hoạch và bảo quản

Chương 9: Phẩm chất hạt

Chương 10: Các thiệt hại trên đồng ruộng Lúa

Kiến nghị giữ 3,81 triệu ha đất trồng lúa

By Anonymous →

10 năm qua tại một số địa phương diện tích lúa nước giảm với tốc độ tương đối nhanh.
5 năm tới, đất lúa sẽ được duy trì và bảo vệ nghiêm ngặt để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Tờ trình về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) cấp quốc gia vừa được Chính phủ hoàn tất để trình Quốc hội vào kỳ họp tới.

Tại đây, Chính phủ cũng đã đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011 – 2015, cơ bản đã đạt được các chỉ tiêu Quốc hội quyết định. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều hạn chế, yếu kém.

Thiếu đất cho giao thông đô thị

Theo tờ trình, 10 năm qua mặc dù diện tích đất nông nghiệp tăng (từ 9.570 ha lên 10.126 nghìn ha) song tại một số địa phương diện tích lúa nước giảm với tốc độ tương đối nhanh. Mỗi năm Cà Mau giảm 6,2 nghìn ha, Bạc Liêu 5,4 nghìn ha, Tp.HCM 2,7 nghìn ha, nhiều tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc cũng giảm trên 1000 ha/năm.

Trong khi đó diện tích đất lâm nghiệp chưa đạt chỉ tiêu (15.366 nghìn/16.224 nghìn ha). Đất rừng phòng hộ cũng chỉ đạt 88,30% với 5.795ha.

Đáng chú ý, quỹ đất dành cho các nhu cầu y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao chưa đáp ứng được nhu cầu. Cơ cấu sử dụng đất trong đô thị chưa hợp lý, tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13% (yêu cầu từ 20 – 25%). Đất dành cho giao thông tĩnh cũng thấp dưới 1%, trong khi yêu cầu là từ 3 – 3,5%...

Chính phủ cũng nhìn nhận “công tác quy hoạch sử dụng đất thiên về sắp xếp các loại đất theo mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường”.

Lợi ích cục bộ địa phương cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến việc đề xuất quy hoạch thiếu tính đồng bộ, thiếu cân nhắc đến lợi ích chung. Việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại nhiều địa phương còn mang tính hình thức nên dẫn đến việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch bị hạn chế, Chính phủ nhìn nhận.

Bảo vệ nghiêm ngặt đất lúa

Theo số liệu của Chính phủ, hiện nay cả nước còn 3.164 nghìn ha đất chưa sử dụng. Trong giai đoạn 20 năm tới diện tích này sẽ được khai thác tối đa.

Phần định hướng và phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) Chính phủ nêu rõ quan điểm quản lý chặt chẽ, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững. Quy hoạch sử dụng đất phải là công cụ quan trọng của Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, hỗ trợ điều tiết thị trường bất động sản.

Quan điểm duy trì và bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa cần thiết để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cũng được thể hiện mạnh mẽ tại tờ trình.

Chính phủ cho biết, trong quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất, các địa phương đề xuất nhu cầu chuyển khoảng 500 nghìn ha đất lúa sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp hoặc chuyển cơ cấu cây trồng vật nuôi. Theo đề xuất này tổng diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 chỉ còn trên 3,6 triệu ha.

Sau khi cân nhắc tính toán nhiều phương án, Chính phủ kiến nghị Quốc hội giữ chỉ tiêu đất trồng lúa trên 3,81 triệu ha trong kế hoạch  5 năm 2011 – 2015. Sau năm 2015, căn cứ thực tế của từng địa phương, trong trường hợp cần thiết mới điều chỉnh lại chỉ tiêu này khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất 2016 – 2020.

Kiến nghị này được đưa ra trên cơ sở phân tích khả năng khai thác, mở rộng diện tích đất trồng lúa để bù đắp vào diện tích đất lúa mất đi là rất hạn chế và tốn kém. Trong khi theo kịch bản biến đổi khí hậu, hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn ha đất lúa sẽ bị ảnh hưởng khi nước biển dâng.

Và, dự báo đến năm 2020, với dân số khoảng 100 triệu người và sẽ dần đi vào ổn định khoảng 120 triệu người, tổng lương thực cho các nhu cầu của cả nước cần khoảng 47 triệu tấn, diện tích lúa gieo trồng cần tối thiểu khoảng 7,3 triệu ha.

Quyết tâm bảo vệ đất lúc cũng được thể hiện rõ trong các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.

Theo đó, Chính phủ sẽ ban hành các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích địa phương giữ đất lúa, điều tiết phân bổ ngân sách nhà nước đảm bảo lợi ích giữa các địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp với các địa phương thuần nông, nhất là chuyên trồng lúa.

Đồng thời sẽ đánh giá thực trạng sử dụng đất khu công nghiệp nhằm hạn chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa sang đất khu công nghiệp.

Báo cáo kế hoạch sử dụng đất 5 năm của Chính phủ sẽ được Ủy ban Kinh tế xem xét, thẩm tra vào phiên họp toàn thể tại Tp.HCM ngày 24/9 tới đây. Sau đó, kế hoạch này cũng sẽ được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội quyết định vào kỳ họp cuối năm nay.
VnEconomy

Thế giới trước nguy cơ thiếu lương thực

By Anonymous →

picture
Hầu như không có dấu hiệu tích cực nào cho thấy giá lương thực sẽ bớt "nóng" trong thời gian tới.
Báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) vừa cho biết, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã phải sử dụng nguồn lương thực dự trữ và 36 nước đang trong tình trạng khủng hoảng lương thực cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. 

Giá lương thực ngày càng gia tăng đã tác động nặng nề đến người nghèo trên thế giới và các chuyên gia nhận thấy hầu như không có dấu hiệu tích cực nào cho thấy giá sẽ dịu bớt. 

Đời sống dân nghèo thêm khó khăn 

Các số liệu của FAO, trong năm 2007, giá lương thực toàn cầu đã tăng gần 40%, khiến đời sống người nghèo ngày càng khó khăn. Sản lượng ngũ cốc của châu Âu, Mỹ và đặc biệt là Australia bị giảm mạnh do thiên tai. Các bệnh dịch như cúm gia cầm, heo tai xanh, dịch bệnh lở mồm long móng ở trâu bò tại nhiều nước châu Á đã tác động mạnh đến ngành chăn nuôi. 

Giá gạo tại Banglades tăng 70% do thiên tai làm ngành canh tác ngũ cốc của nước này bị thiệt hại khoảng 600 triệu USD. Cơn bão tuyết kéo dài tại Trung Quốc trùng vào dịp Tết vừa qua đã gây khan hiếm lương thực và thực phẩm. Bốn nước Mỹ Latinh gồm: Bolivia, Haiti, Nicaragoa và Cộng hòa Dominica; các nước Trung Mỹ và Caribe cũng vẫn phải nhập lương thực. 

Nguyên nhân chính khiến lương thực tăng giá là do hiện tượng biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng cho ngành nông nghiệp. Một nghiên cứu của trường Đại học Stanford dự báo đến năm 2030, sản lượng lương thực và hoa màu của châu Á sẽ giảm khoảng 10% hoặc cao hơn do tình trạng khí hậu biến đổi. 

Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khác khiến giá lương thực tăng mạnh như nhiên liệu tăng giá làm tăng chi phí vận chuyển, kinh tế châu Á tăng trưởng cao, đời sống cải thiện làm tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, chính sách đô thị hoá cũng làm giảm bớt diện tích canh tác lương thực... 

Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế, có trụ sở ở Mỹ, ông Joachim Von Braun, cho rằng tăng trưởng kinh tế châu Á là một lý do then chốt khiến cho giá cả leo thang. Bên cạnh đó, châu Á còn thiếu đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt cho khoa học, công nghệ và thuỷ lợi. 

Nỗ lực giảm sức ép thiếu lương thực 

Báo cáo của tổ chức tư vấn kinh doanh nông sản Bidwells Agribusiness của Anh vừa cho biết tình trạng leo thang giá cả lương thực, thực phẩm trên thế giới sẽ còn kéo dài trong thời gian tới, trong đó giá các loại ngũ cốc như đậu tương, ngô, bột mỳ đều tăng ở mức cao nhất trong 12 năm qua, giá các loại thịt gia cầm, trứng, các sản phẩm từ sữa cũng tăng mạnh. FAO cho biết, sản lượng lương thực thế giới trong năm 2008 có khả năng tiếp tục tăng và sẽ đạt hơn 2 tỷ tấn. Nhưng sức tiêu thụ cũng sẽ tăng xấp xỉ hoặc cao hơn. 

Chính phủ nhiều nước đang nỗ lực thực hiện các biện pháp nhằm nới lỏng sức ép của giá lương thực và thực phẩm. Tháng Giêng vừa qua, Bắc Kinh phải áp dụng các biện pháp khống chế giá cả một số mặt hàng thiết yếu ở nhiều địa phương. Indonesia đã giảm thuế nhập khẩu đậu xanh, Malaysia lập quỹ dự trữ lương thực quốc gia, Ấn Độ đã ngừng thực hiện các hợp đồng bán gạo ra bên ngoài từ năm 2007. 

Một số nước châu Á như Myanma, Indonesia còn có kế hoạch mở rộng diện tích trồng trọt để tăng sản lượng. Tại Venezuela, đã điều động 1.200 binh sĩ thuộc lực lượng Bảo vệ Quốc gia tới khu vực biên giới giáp Columbia để ngăn chặn nạn buôn lậu lương thực qua biên giới. 

Nhằm kiểm soát an ninh lương thực, ngày 15/2, Chương trình Lương thực thế giới (WFP) đã khai trương bản đồ an ninh lương thực trực tuyến của Campuchia. Bản đồ chỉ ra những vùng còn mong manh về an ninh lương thực, chủ yếu do tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và chỉ ra "10 điểm nóng" về an ninh lương thực ở nước này. 

Liên hiệp quốc và WFP đã phải đẩy mạnh các chương trình cứu trợ lương thực cho nhiều nước. Ngày 15/2, WFP và Chính phủ Columbia đã thống nhất chương trình hoạt động chung, trị giá 157 triệu USD, để cung cấp lương thực và trợ giúp nhân đạo cho hơn 530.000 người phải đi sơ tán ở nước này trong 3 năm tới. Chương trình này sẽ được bắt đầu từ tháng 4/2008. 

WFP và Chính phủ Apganisstan cũng đã kêu gọi cộng đồng quốc tế trợ giúp khẩn cấp 77 triệu USD để cung cấp 89.000 tấn lương thực cho khoảng 2,55 triệu người ở đất nước Nam Á này.

VnEconomy

GSTS. Bùi Chí Bửu ba mươi năm gắn bó với cây lúa

By Anonymous →
Nhiều người dân trên cả nước, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), biết đến GS-TS Bùi Chí Bửu không phải bởi trên cương vị Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL mà bởi những thành công của Ông cùng với tập thể cán bộ, nhân viên của Viện trong lĩnh vực nghiên cứu về cây lúa, tạo bước phát triển nhảy vọt về sản xuất lương thực ở vùng châu thổ này.
GS-TS Bùi Chí Bửu xuất thân trong một gia đình lao động nghèo đông anh em, tuổi thơ gắn bó với quê hương vùng lúa Hồng Ngự - tỉnh Đồng Tháp. Năm 1971, ông thi đậu vào Trường Đại học Nông - Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1977, ông tốt nghiệp đại học, cũng là lúc Viện Lúa ĐBSCL được thành lập và ông đã trở thành một trong những người đầu tiên về xây dựng Viện. Năm 1988, Bùi Chí Bửu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm giống lúa nước sâu ở ĐBSCL phục vụ cho công tác chọn giống”.
Kể từ khi trở thành cán bộ nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL đến nay, GS-TS Bùi Chí Bửu đã có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực chọn tạo giống, xây dựng biện pháp thâm canh và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ, đề xuất nhiều mô hình về tổ chức sản xuất lúa.
Về chọn tạo giống
Nước ta là một nước nông nghiệp, với ưu thế của một nền văn minh lúa nước, thế nhưng trước những năm 90 của thế kỷ trước, hàng năm chúng ta phải nhập trên 1 triệu tấn lương thực. Làm thế nào để đủ ăn - đó là nỗi lo của mọi người Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng đến nay, ngành sản xuất lúa gạo của nước ta đã có những bước tiến vững chắc: An ninh lương thực được đảm bảo, hàng năm xuất khẩu 4 đến 5 triệu tấn gạo. Có được thành tựu này, cùng với sự cởi trói của các chính sách trong thời kỳ đổi mới, phải kể đến những đóng góp của các kỹ thuật tiến bộ, trong đó có việc sử dụng giống mới trong sản xuất lúa. ĐBSCL là vùng châu thổ được coi là vựa lúa, đảm bảo 50% an ninh lương thực của nước ta, cũng là đất dụng võ của Viện Lúa ĐBSCL. Để nâng cao sản lượng, chất lượng lúa ở vùng này, các nhà khoa học của Viện đã dành nhiều công sức cho công tác chọn tạo giống. Sau gần 30 năm thành lập, Viện Lúa ĐBSCL đã chọn tạo được hàng trăm giống lúa, đáp ứng nhu cầu sản xuất của nhiều địa phương. Đến nay, các tỉnh từ Bình Thuận trở vào có đến 70% diện tích trồng lúa sử dụng các giống của Viện. Nhiều giống lúa của Viện cũng đang phát huy tác dụng tại nhiều vùng của các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Viện cũng đã xây dựng các hướng chọn tạo giống lúa rất đa dạng: Thâm canh, ngắn ngày né lũ, chống chịu (sâu, rầy, phèn, mặn, hạn, ngập lụt…), chất lượng cao… đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong từng thời kỳ và có tính thích ứng cao đối với nhiều vùng sinh thái. Những năm gần đây, Viện đã chọn tạo được nhiều giống lúa chất lượng cao, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (ĐBSCL chiếm 80% sản lượng gạo xuất khẩu). Có được những bộ giống lúa tốt (năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với các vùng sinh thái), được sản xuất chấp nhận, phải kể đến sự đóng góp lớn lao của tập thể các nhà khoa học thuộc Viện Lúa ĐBSCL, trong đó có GS-TS Bùi Chí Bửu. Quá trình hoạt động khoa học của GS-TS Bùi Chí Bửu gắn liền với những thành tựu của Viện Lúa ĐBSCL. Những năm đầu mới ra trường, kỹ sư Bùi Chí Bửu được sự dẫn dắt của các nhà khoa học đầu đàn, tiếp đó được đào tạo bài bản trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ sinh học phân tử, cùng với sự miệt mài trong học tập, nghiên cứu công nghệ mới tại những cơ sở tiên tiến… là nguồn vốn đáng quý để ông cùng các đồng nghiệp tạo nên những thành tựu của Viện. Nói đến GS-TS Bùi Chí Bửu, nhiều nhà chọn giống lúa nhận xét: Ông là người tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ mới (công nghệ sinh học) trong chọn tạo giống lúa. Bởi bằng việc sử dụng những công nghệ này, mục đích tạo giống được kiểm soát, con đường có được giống tốt sẽ rút ngắn.
Xây dựng các biện pháp thâm canh
Để nâng cao sản lượng, chất lượng và sản xuất lúa có lãi, cùng với việc sử dụng giống tốt, Viện rất coi trọng việc áp dụng các biện pháp thâm canh. Viện đã đề xuất biện pháp “3 giảm, 3 tăng”, xây dựng bản đồ phân bón, áp dụng phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), giúp người sản xuất lúa chủ động, tiết kiệm phân bón, thuốc trừ sâu. Đến nay đã có khoảng 40% diện tích lúa được áp dụng những biện pháp này, đem lại hiệu quả về kinh tế và môi trường cho người sản xuất. Các quy trình thâm canh tổng hợp lúa tăng năng suất, tăng chất lượng và hiệu quả kinh tế đã được Viện chuyển giao cho nông dân trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Về kết quả ứng dụng công nghệ hạt giống, đến nay đã có trên 20% diện tích gieo trồng và trên 34% diện tích vùng quy hoạch lúa xuất khẩu đã sử dụng giống lúa xác nhận. Đây là con số ghi nhận cả quá trình nhiều năm thực hiện công tác chuyển giao công nghệ của Viện Lúa ĐBSCL. Cùng với các kỹ thuật tiến bộ về giống, biện pháp canh tác, Viện cũng đã chuyển giao các tiến bộ về cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (máy gieo hàng, máy sấy, máy đánh bùn, máy tuốt lúa, máy bóc bẹ tách hạt ngô…). Từ lúc là cán bộ kỹ thuật, cho đến nay với vai trò là người đứng đầu Viện, GS-TS Bùi Chí Bửu luôn bám sát sản xuất để những kết quả nghiên cứu đến được những địa chỉ cần áp dụng.
Nâng cao giá trị sinh lợi của hạt gạo và giúp người nông dân bớt nghèo
Trước đây, chúng ta phải lo sao cho có nhiều gạo, nhưng đến nay là cần có gạo ngon để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Xuất phát từ yêu cầu đó, GS-TS Bùi Chí Bửu đã đề xuất hướng chọn giống lúa chất lượng cao. Đến nay, nhiều giống lúa theo hướng này đã được trồng đại trà trong sản xuất, đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe hơn của người tiêu dùng và đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu. Ông cũng là người đề xuất Chương trình “Một triệu héc ta lúa xuất khẩu ở ĐBSCL” mà hiện nay Chương trình này đang được triển khai và đem lại hiệu quả rõ rệt. GS-TS Bùi Chí Bửu cũng là người đề xuất những mô hình, giải pháp để xây dựng những cơ chế, chính sách sao cho phù hợp với từng địa phương, từng vùng, đặc biệt đối với vùng nông thôn. Với ý tưởng làm thế nào để hạt gạo làm ra có giá cao trên thị trường quốc tế, ông đề xuất: Sản xuất nông nghiệp cần chuyển hướng phát triển trên cơ sở áp dụng những kỹ thuật mới, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh học. Với mục tiêu hướng tới nền nông nghiệp chất lượng cao, có sức cạnh tranh, bền vững, chúng ta cần tổ chức sản xuất theo quy mô lớn, chuyên môn hoá. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Không thỏa mãn với kết quả đạt được, GS-TS Bùi Chí Bửu và các nhà khoa học ở Viện Lúa ĐBSCL vẫn luôn trăn trở, làm thế nào để phát huy được lợi thế, nâng cao giá trị sinh lợi của hạt lúa ĐBSCL, để hạt gạo Việt Nam vươn xa hơn trên thị trường quốc tế. Nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học, trong đó có sự đóng góp của Viện Lúa ĐBSCL, năng suất lúa bình quân trong vùng đã tăng từ 2,81 tấn/ha/vụ lên 4,88 tấn/ha/vụ, giúp nông dân ĐBSCL xóa đói giảm nghèo vững chắc.
Cùng với những thành công trong nghiên cứu khoa học (chủ trì và tham gia hơn 50 đề tài nghiên cứu của tổ chức quốc tế, cấp nhà nước, bộ, địa phương), GS-TS Bùi Chí Bửu còn viết 2 giáo trình và 3 cuốn sách về cây lúa. Đây là những tài liệu có giá trị trong học tập, nghiên cứu khoa học và sản xuất. Năm 2000, công trình “Giống lúa và cải tiến kỹ thuật thâm canh lúa ở ĐBSCL” mà ông là đồng tác giả đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Ở tuổi 54, GS-TS Bùi Chí Bửu luôn chạy đua với thời gian, vì trước mắt còn rất nhiều dự định cho những công trình nghiên cứu khoa học về cây lúa. Mong sao các công trình nghiên cứu khoa học của ông có được nhiều thành công hơn nữa, để người sản xuất lúa có lãi ngày càng cao.