Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Kinh nghiệm học"

Làm sao để đạt điểm 10 ?

By Anonymous →
Bạn mơ ước những điểm 10 đỏ “choe choét” trong phiếu liên lạc, không cần phải mơ nữa, hãy thực hiện những lời khuyên sau đây, chuyện điểm 10 sẽ dễ như ăn súp í mà. 

Dưới đây là 9 cách học hiệu quả mà bạn có thể kiểm tra và áp dụng cho chính mình.
1. Góc học tập gọn gàng, trật tự.
 
Khoảng trời riêng này không chỉ giúp bạn lưu giữ, sắp xếp các tài liệu mà còn khiến cho tâm trí của bạn tập trung vào vào việc học tốt hơn. Nó cũng sẽ giúp bạn tránh những phiền nhiễu để bạn chú tâm vào công việc. Bố mẹ khi nhìn thấy con mình biết tự bày trí, sắp xếp cho không gian riêng thì sẽ hài lòng lắm đấy. Và biết đâu được sau khi dọn dẹp lại góc học tập, bạn lại phát hiện ra những món đồ “nhỏ xí” tưởng chừng đã quên từ thưở ngày xửa ngày xưa rồi í. Thế là lại có chút xíu cảm hứng để nghĩ ngợi rồi nhé!
 
2. Lên danh sách học
 
Không biết bắt đầu từ đâu sẽ là rào cản làm bạn nản chí, không tập trung. Một kỹ thuật quan trọng là lập ra danh sách về những gì phải làm và nơi để bắt đầu. Như vậy bạn sẽ làm việc một cách khoa học và có thứ tự hơn. Mỗi khi làm xong 1 mục nhỏ nào, bạn hãy tick vào đấy 1 dấu hoặc gạch chéo đi. Vì vậy mà việc kiểm tra lại kết quả những gì đã thực hiện cũng sẽ dễ dàng. Bạn chỉ cần check lại list công việc mà thôi.
 
3. Sử dụng từ viết tắt.
 
Một cách thức ghi nhớ phổ biến được sử dụng trong nghiên cứu là viết tắt. Điều này giúp rèn luyện khả năng ngôn ngữ, khả năng hiểu và diễn đạt kiến thức. Đây cũng là cách bạn tiết kiệm thời gian và tạo cho mình thói quen làm việc nhanh và có nguyên tắc. Bạn có thể viết các từ giống vần với nhau nhưng ngắn gọn hơn để biểu đạt, hay sử dụng các cách viết tắt thông dụng. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá việc lạm dụng vì dễ dẫn đến việc… không hiểu những gì mình viết.
 
4. Tạo giai điệu.
 
Một kỹ thuật mà bạn có thể áp dụng trong việc cải thiện bộ nhớ là điều chỉnh, ghép vần để tạo mẹo cho việc dễ học. Tạo ra sự quen thuộc có thể giúp bạn nhớ những khái niệm một cách dễ dàng và lâu hơn. Ví dụ như việc thêm đuôi “s” trong Tiếng Anh làm bạn quá bối rối. Vậy thì hãy thử áp dụng 1 chút nhé:
 
Với những danh từ số nhiều sẽ phát âm là  “iz” khi  kết thúc bằng “- x,- ge,- ch,- s,-sh,-ss” -> vậy ta tạm gọi dãy kí tự trên là: "xem ghe chở sáu sào sắn". Các bạn thấy có dễ không nào? Chỉ cần nhanh trí 1 tý là chúng ta có thể tạo ra vô vàn “câu vè”, bài “phú” hoặc câu nói bất hủ đấy…

 
5. Tập trung cao độ.
 
Đây là điều rất quan trọng trong việc học tập. Bạn sẽ chẳng thu hoạch được gì nếu vừa làm tích phân vừa nghĩ đến cái hẹn Karaoke với đám bạn; hay vừa nghe “Vợ chồng A Phủ” vừa “tính kế” …lên level cho “con Nga Mi” trong game online. Cũng không nên học nhiều môn cũng lúc, sẽ loãng kiến thức. Tập trung hết mức vào một vấn đề là cách để bạn tăng hiệu quả học tập cũng như tiết kiệm thời gian. Nếu bạn để tâm trí ở đâu đó thì sẽ không tạo hình ảnh tốt trong học tập, vừa tốn thời gian, công sức mà chẳng mang lại gì. 
6. Thư giãn.
 
Khi phải đối mặt với 1 khối lượng kiến thức quá lớn, não bạn rất dễ bị ức chế. Không nên ngồi hàng giờ liền vắt óc với đống bài tập toán, hay “chạy sô” quá nhiều. Bạn sẽ bị bão hoà, kiến thức mà bạn nghe được sẽ thi nhau… chạy từ tai này sang tai kia. Hãy có một khoảng thời gian giải lao ngắn, uống nhiều nước hay ăn nhẹ để tái tạo năng lượng cho cơ thể.
 
Bạn cũng có thể tập các bài tập nhẹ: dành khoảng 10 phút nghỉ với một số bài tập thở trong thời gian giải lao, hoặc nhắm mắt lại và… thiền để cải thiện sự tập trung của bạn. Lúc này các ý tưởng cũng như khái niệm sẽ dễ dàng ghi vào trí nhớ hơn, điều này thực sự hữu ích với chúng ta vào những lúc ôn thi, với lượng kiến thức khổng lồ từ nhiều môn.
 
7. Hệ thống kiến thức
 
Ghi lại và kết hợp các khái niện một số sơ đồ, tạo hình ảnh cho bài học là cách hay để giúp bạn có hứng thú học tập, đây là cách củng cố kiến thức một cách rõ ràng, ngắn gọn và khoa học. Não chúng ta đặc biệt thích học với hình ảnh hơn là văn bản chữ khô khan. Ngay cả những từ viết xuống nhiều lần cũng có thể giúp bạn nhớ chúng dễ dàng.
 
8. Sử dụng kiến thức khi có cơ hội
 
Học đi đôi với hành là cách hiệu quả để thực tiễn hóa kiến thức của bạn, giúp bạn “tiếp cận” kiến thức 1 cách sâu sắc hơn. Việc này giúp kiến thức hằn sâu vào trí nhớ bạn 1 cách nhanh chóng, dễ dàng, hơn nữa còn tăng cường trí nhớ cho bạn, giúp bạn tâp thói quen tìm hiểu các khái niệm và xử lí chúng. Giảng bài lại cho ai đó cũng là cách giúp bạn củng cố kiến thức mình được học, test lại khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế. Bạn sẽ nhớ bài rất lâu một cách chính xác. 
 
9. Có một giấc ngủ ngon.
 

Chúng ta thường ít quan tâm đến điều này, nhưng có một giấc ngủ ngon là cách khôn ngoan để chuẩn bị tiếp thu những kiến thức mới. Khi ngủ, hầu hết các cơ quan trong cơ thể người đều nghĩ ngơi, riêng não của chúng ta thì đó là lúc sắp xếp lại các thông tin. Đặc biệt là tiếp thêm năng lượng đủ để nhớ lại những gì bạn đã học trong ngày, tạo thêm “chỗ trống” để tiếp tục thu nhận kiến thức. Việc ngủ tốt cũng giúp bạn có 1 tinh thần thoải mái, có hứng thú để làm việc.

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net

Cách làm bài nghị luận xã hội

By Anonymous →


A/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG , ĐẠO LÝ

1. Khái niệm, đề tài, yêu cầu và các thao tác chính:

a) Khái niệm

Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc đời.

b) Đề tài

Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm:

- Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,…

- Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:

+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng,…

+ Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn,…

+ Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi,...

- Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em,...

- Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,…

- Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống.

c) Yêu cầu

- Hiểu được vấn đề cần nghị luận qua phân tích, giải thích để xác định vấn đè

- Phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh, bàn bạc, bãi bỏ,… nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập luận.

- Phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề.

- Người thực hiện nghị luận phải có lí tưởng và đạo lí.

d) Các thao tác lập luận cơ bản

Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.

2. Cách làm bài

a) Mở bài

- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận.

- Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh ngôn.

- Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.

b) Thân bài

- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng, đạo lí này).

- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu có).

- Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành động.

- Lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu).

c) Kết bài

Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.

3. Tổng kết

Muốn làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, trước hết hãy tìm hiểu sâu về tư tưởng, đạo lí được đem ra bàn bạc.

Tìm hiểu tư tưởng, đạo lí bằng cách phân tích, giải thích theo từng ý, từng vế của vấn đề được nêu.

Phát biểu nhận định, đánh giá của mình về tư tưởng, đạo lí đó.
Nêu các luận cứ và phân tích các luận cứ để khẳng định nhận định, đánh giá của mình.

4. Ví dụ

Lập dàn ý cho đề bài sau (đề 1 SGK Ngữ văn Nâng cao, tập 1, trang 175):

Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống (Lép Tôn-xtôi).

Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình.

a) Mở bài

- Giới thiệu về ý kiến của L.Tôn-xtôi.

- Nêu nội dung câu nói của L.Tôn-xtôi:

+ Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường ; không có lí tưởng thì không có cuộc sống.

+ Nâng cao vai trò của lí tưởng lên một tầm cao ý nghĩa của cuộc sống. Ở đây đòi hỏi phải giải thích mối quan hệ giữa lí tưởng và ngọn đèn, phương hướng và cuộc sống.

- Yêu cầu của đề: suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung đối với mọi người và lí tưởng riêng của mình.

b) Thân bài

- Giải thích câu nói của L.Tôn-xtôi về vai trò của lí tưởng đối với cuộc sống:

+ Lí tưởng là ước mơ, khát vọng định hướng cuộc sống. Lí tưởng xấu có thể làm hại cuộc đời của một người và nhiều người. Không có lí tưởng tốt đẹp thì không có cuộc sống tốt đẹp.

+ Lí tưởng tốt đẹp, thực sự có vai trò chỉ đường vì đó là lí tưởng vì dân, vì nước, vì gia đình và hạnh phúc bản thân. Lí tưởng tốt đẹp có vai trò chỉ đường cho chính sự nghiệp cụ thể mà mỗi người theo đuổi: khoa học, giáo dục, an ninh, kinh doanh,…

- Nêu suy nghĩa tán thành hay không tán thành đối với ý kiến của nhà văn Nga.

- Nêu lí tưởng riêng của mình: vấn đề bức thiết đặt ra cho mỗi HS tốt nghiệp THPT là chọn ngành nghề, một ngưỡng cửa để bước vào thực hiện lí tưởng.

c) Kết bài

Khẳng định vai trò của lí tưởng trong cuộc sống mỗi con người mỗi thế hệ, mỗi dân tộc.

B/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

1. Khái niệm

Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người ta nhận thấy. Những gì không hiện ra bên ngoài, những gì không có hình dạng hay trạng thái, con người không cảm nhận, quan sát được đều có thể coi là hiện tượng. Đây là chỗ phân biệt hiện tượng (bên ngoài) với bản chất (bên trong) và với vấn đề (không hình trạng), dẫu cho chúng ta vẫn thường xuyên bình luận cả hiện tượng lẫn vấn đề.

Khi nói hiện tượng đời sống thì hai chữ đời sống ở đây được dùng trong sự phân biệt với văn học, khoa học, với sách vở nói chung. Vì vậy, nói đến hiện tượng đời sống là nói đến những cái xảy ra ở cuộc sống bên ngoài, con người bình thường có thể quan sát thấy, chứ không phải trong sách vở, văn chương.

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra trong đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề tài bàn bạc gần gũi với đời sống, sát hợp với trình độ nhận thức của HS như tai nạn giao thong, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt,…

2. Cách làm bài

a) Cách viết mở bài

Nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng là một dạng văn bản. Vì vậy, nó cũng cần bắt đầu bằng một mở bài. Và phần mở bài của nó dĩ nhiên không thể đi ngược lại những nguyên tắc chung của mở bài.

Nghị luận là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người muốn được bàn luận và đánh giá về một hiện tượng (hoặc vấn đề) nào đấy. Mở bài của một bài nghị luận hiện tượng đời sống phải thể hiện được định hướng đánh giá và bàn luận đó thông qua những câu hỏi, hoặc những câu có tác dụng gợi suy nghĩ, trăn trở trong người đọc (người nghe).

b) Cách viết thân bài

Thân bài phải gồm đủ hai thành phần là bàn luận và đánh giá, để có thể đáp ứng yêu cầu bình luận.

Các ý của thân bài cần được sắp xếp sao cho người đọc (người nghe) có thể tiếp nhận sự đánh giá, bàn luận của người làm văn một cách dễ dàng và hứng thú, vì sự bình luận chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự hướng tới người đọc (người nghe). Chẳng hạn:

- Người đọc (người nghe) sẽ không thể tiếp nhận, và càng không thể tiếp nhận một cách hứng thú những lời bình luận về một hiện tượng nếu họ còn mơ hồ về cái hiện tượng được đưa ra bình luận ấy. Vì thế, trước khi bắt tay vào đánh giá hay bàn bạc, người bình luận nên trình bày một cách trung thực, đầy đủ, rõ ràng về hiện tượng đời sống mà mình sẽ đem ra bàn luận cùng người đọc (người nghe).

Người bình luận không nên cố trình bày hiện tượng đời sống đó sao cho phù hợp nhất với quan điểm của mình, vì việc làm ấy có thể sẽ mâu thuẫn với yêu cầu khách quan, trung thực và từ đó sẽ khién người đọc (người nghe) hoài nghi, cảm thấy sự bình luận không thật công bằng, không vô tư.

Người bình luận cũng nên vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh trong lúc trình bày để bài văn của mình thêm chính xác, rõ ràng, sinh động và do đó, thêm sức thuyết phục người đọc (người nghe).

- Người đọc (người nghe) sẽ không thể thực sự tin vào ý kiến của người nghị luận, nếu cảm thấy ý kiến ấy chỉ là sự áp đặt một chiều. Sức thuyết phục của bài nghị luận sẽ cao hơn nhiều khi người nghe có điều kiện so sánh ý kiến của người nghị luận với những ý kiến đã được nêu ra trước đó. Do vậy, người làm văn nên làm công việc điểm lại và nhận xét một cách hợp tình hợp lí các quan điểm chính đã có về hiện tượng đời sống được đưa ra bình luận, trước khi đưa ra quan điểm của bản thân mình.
Việc điểm lại và nhận xét các quan điểm chính đã có về hiện tượng đời sống nêu ở đề bài rõ ràng cũng cần phải đạt được các yêu cầu khách quan, trung thực, như vừa nêu ở điểm trên. Vì có thế thì người nghị luận mới mong đạt được mục đích của mình.

- Khi nêu ra và bảo vệ quan điểm của riêng mình, người bình luận có thể đứng hẳn về một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và phê phán phía mà mình chắc chắn là sai. Người bình luận cũng có thể kết hợp những phần đúng và loại bỏ phần còn hạn chế của mỗi phía để đi tới một sự đánh giá mà mình tin là thực sự hợp lí, công bằng. Và cũng không loại trừ khả năng người bình luận đưa ra một cách đánh giá khác biệt của riêng mình, sau khi đã phân tích các quan điểm ý kiến khác nhau về đề tài cần bình luận.

Việc lựa chọn cách làm nào trong cách kể trên cũng hoàn toàn chỉ xuất phát từ một và chỉ một cơ sở duy nhất - cơ sở chân lí. Và sau khi đã lựa chọn được một cách thức phù hợp với chân lí (lẽ phải) rồi thì nhiệm vụ của người bình luận là thuyết phục người nghe (người đọc) đặt niềm tin vào sự đánh giá của mình, như chính mình đã từng có niềm tin như thế.
- Khi tiếp tục luận bàn sâu rộng hơn, người làm văn có thể đề cập tới thái độ, hành động, cách giải quyết cần có trước hiện tượng vừa được nhận xét, đánh giá, cũng có thể bày tỏ những cảm nhận, suy nghĩ mà mình đã rút ra khi liên hệ với thời đại, hoàn cảnh sống, lứa tuổi của mình và của người đang lắng nghe mình bình luận. Sự bàn luận còn có thể đạt tới tầm vóc lớn hơn, có giá trị cao hơn nếu người bình luận có thể mở ra những ý nghĩa sâu rộng, sâu sắc và bất ngờ nữa từ hiện tượng đời sống mà mình đang bình luận.

c) Cách viết kết bài

Phần kết bài phải đóng được bài văn lại bằng một khẳng định chắc chắn, không thể nào bác bỏ.

Ở một bài nghị luận hay, phần kết không chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là chốt lại bài văn. Một phần kết chỉ thật hay khi nó còn mở ra được một phạm vi rộng lớn hơn cho những suy ngẫm, những điều cần bàn luận tiếp.

3. Tổng kết

Khi có đề văn yêu cầu nghị luận về một hiện tượng đời sống thì trước hết phải tìm hiểu hiện tượng đời sống được nêu trong đề, phân tích các biểu hiện của nó, lí giải các nguyên nhân và hậu quả.

Tiếp đến nêu ý kiến nhận xét, đánh giá hiện tượng đó tốt, xấu, lợi, hại như thế nào. Chúng ta cần có thái độ ra sao đối với hiện tượng đó. Trên cơ sở suy nghĩ đó mà lập dàn ý để cho bài viết mạch lạc, vận dụng kết hợp hợp lí các thao tác nghị luận.

4. Ví dụ

Lập dàn ý cho đề bài sau (đề 1 SGK Ngữ văn Nâng cao, tập 1, trang 202):

Báo Tuổi trẻ ngày 12/07/2004 đưa tin:

“Theo Ban Chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, sau hai đợt thi đã có 3186 thí sinh bị xử lí kỉ luật do vi phạm quy chế thi, trong đó có 2637 thí sinh bị đình chỉ thi, chủ yếu do mang và sử dụng tài liệu trong phòng thi. Hình thức mang tài liệu, phao thi ngày càng tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, điện thoại di động, trong đế giày”.

Hãy bình luận về thực trạng đó.

a) Mở bài

Nêu hiện tượng, trích dẫn đề, nhận định chung.

b) Thân bài

- Phân tích hiện tượng:

+ Hiện tượng thí sinh vi phạm quy chế thi, bị xử lí kỉ luật lên đến hai, ba nghìn người là hiệnt tượng chứng tỏ một bộ phận thí sinh thiếu tự do chưa có kiến thức vững vàng, động cơ, thái độ học tập, thi cử không đúng đắn.

+ Hiện tượng sử dụng nhiều hình thức mang tài liệu tinh vi chứng tỏ nhiều thí sinh đã có ý thức vi phạm quy chế từ ở nhà, có chủ ý không tuân thủ quy chế thi, rõ ràng là phạm pháp có ý thức.

+ Việc xử lí của các Hội đồng thi chứng tỏ việc thi cử được tổ chức nghiêm túc, các giám thị đã có thái độ nghiêm khắc cần thiết.

- Bình luận hiện tượng:

Hàng năm, cả nước ta có khoảng tám, chín trăm nghìn cho đến một triệu thí sinh thi đại học. Con số hai, ba nghìn nói trên là rất ít so với tổng số.
Đa số thí sinh Việt Nam có thái độ thi cử nghiêm túc, đúng đắn, tôn trọng quy chế thi. Không nên vì một số ít có thái độ sai phạm mà vơ đũa cả nắm, đánh giá sai toàn bộ thí sinh.

- Phê phán những mặt sai:

+ Thái độ, động cơ học tập.

+ Thái độ gian lận, cố tình vi phạm.

- Khẳng định đa số học sinh có thái độ đúng đắn , giám thị hoàn thành tốt nhiệm vụ coi thi.

c) Kết bài

- Kêu gọi các thi sinh có thái độ đứng đắn trong thi cử, đảm bảo chất lượng các kì thi tuyển sinh.

- Bài tỏ thái độ của người viết trước hiện trạng đó.

Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net

Cách làm 1 số đề Nghị luận tư tưởng đạo lí

By Anonymous →

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

1- Khái niệm 


Quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời. 


- Tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời bao gồm: 


+ Lí tưởng (lẽ sống) 


+ Cách sống
 

+ Hoạt động sống 


+ Mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em và những người thân thuộc khác). ở ngoài xã hội có các quan hệ trên, dưới, đơn vị, tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè...
 


2-Yêu cầu 


a . Hiểu được vấn đề cần nghị luận là gì. 


b. Từ vấn đề nghị luận đã xác định, người viết tiếp tục phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh, bàn bạc, bác bỏ... nghĩa là biết áp dụng nhiều thao tác lập luận. 


c. Phải biết rút ra ý nghĩa vấn đề
 

3- Cách làm 


- Trước khi tìm hiểu đề phải thực hiện ba thao tác 


+ Đọc kĩ đề bài 


+ Gạch chân các từ quan trọng 


+ Ngăn vế (nếu có) 


- Tìm hiểu đề 


a1. Tìm hiểu về nội dung (đề có những ý nào) 


a2. Thao tác chính (Thao tác làm văn) 


a3. Phạm vi xác định dẫn chứng của đề bài 


- Lập dàn ý 


+ Mở bài ® Giới thiệu được hiện tượng đời sống cần nghị luận. 


+ Thân bài ® Kết hợp các thao tác lập luận để làm rõ các luận điểm và bàn bạc hoặc phê phán, bác bỏ. 


- Giải thích khái niệm của đề bài 


- Giải thích và chứng minh vấn đề đặt ra 


- Suy nghĩ (cách đặt vấn đề ấy có đúng? hay sai). Mở rộng bàn bạc bằng cách đi sâu vào vấn đề nào đó - một khía cạnh. Phần này phải cụ thể, sâu sắc tránh chung chung.
 

+ Kết bài ® Nêu ra phương hướng, một suy nghĩ mới trước hiện tượng đời sống.
 

Câu hỏi và bài tập 


ĐỀ 1 


" Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận ". (Euripides) 

Anh (chị) nghĩ thế nào về câu nói trên?

1/ Giải thích khái niệm của đề bài (câu nói)
 

• Giải thích câu nói: "Tại sao chỉ có nơi gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương số phận ?" Vì gia đình có giá trị bền vững và vô cùng to lớn không bất cứ thứ gì trên cõi đời này sánh được, cũng như không có bất cứ vật chất cũng như tinh thần nào thay thế nổi. Chính gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, chở che cho ta khôn lớn?" 


- Suy ra vấn đề cần bàn bạc ở đây là: Vai trò, giá trị của gia đình đối với con người.
 

2/ Giải thích, chứng minh vấn đề: Có thể triển khai các ý:
 

+ Mỗi con người sinh ra và lớn lên, trưởng thành đều có sự ảnh hưởng, giáo dục to lớn từ truyền thống gia đình (dẫn chứng: văn học, cuộc sống).
 

+ Gia đình là cái nôi hạnh phúc của con người từ bao thế hệ: đùm bọc, chở che, giúp con người vượt qua được những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống.
 

3/ Khẳng đinh, bàn bạc mở rộng vấn đề:
 

+ Khẳng định câu nói đúng. Bởi đã nhìn nhận thấy được vai trò, giá trị to lớn của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, là nền tảng để con người vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên, câu nói chưa hoàn toàn chính xác. Bởi trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều người ngay từ khi sinh ra đã không được sự chở che, đùm bọc, giáp dục, nâng đỡ của gia đình nhưng vẫn thành đạt, trở thành con người hữu ích của xã hội. 


+ Câu nói trên đã đặt ra vấn đề cho mỗi con người, xã hội: Bảo vệ, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc. Muốn làm được điều đó cần: trong gia đình mọi người phải biết thương yêu, đùm bọc chở che nhau; phê phán những hành vi bạo lực gia đình, thói gia trưởng....
 

ĐỀ 2 


Anh / chị nghĩ như thế nào về câu nói:
 

"Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố" 


( Trích Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm)
 

1/ Giải thích khái niệm của đề bài (câu nói)
 

+ Giông tố ở đây dùng để chỉ cảnh gian nan đầy thử thách hoặc việc xảy ra dữ dội .
 

+ Câu nói khẳng định: cuộc đời có thể trải qua nhiều gian nan nhưng chớ cúi đầu trước khó khăn, chớ đầu hàng thử thách, gian nan. ( Đây là vấn đề nghị luận)
 

2/ Giải thích, chứng minh vấn đề: Có thể triển khai các ý:
 

+ Cuộc sống nhiều gian nan, thử thách nhưng con người không khuất phục.
 

+ Gian nan, thử thách chính là môi trường tôi luyện con người.
 

3/ Khẳng đinh, bàn bạc mở rộng vấn đề:
 

+ Câu nói trên là tiếng nói của một lớp trẻ sinh ra và lớn lên trong thời đại đầy bão táp, sống thật đẹp và hào hùng.
 

+ Câu nói thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực : sống không sợ gian nan , thử thách , phải có nghị lực và bản lĩnh.
 

+ Câu nói gợi cho bản thân nhiều suy nghĩ: trong học tập, cuộc sống bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu vươn lên. Bởi cuộc đời không phải con đường bằng phẳng mà đầy chông gai, mỗi lần vấp ngã không được chán nản bi quan mà phải biết đứng dậy vươn lên. Để có được điều này thì cần phải làm gì?
 

ĐỀ 3
 

"Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường . không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống » (Lép-Tôi-xtôi ) . Anh (chị )hiểu câu nói ấy thế nào và có suy nghĩ gì trong quá trình phấn đấu tu dưỡng lí tưởng của mình 


Sau khi vào đề bài viết cần đạt được các ý
 

1/ Giải thích:
 

- Giải thích lí tưởng là gì ( Điều cao cả nhất, đẹp đẽ nhất, trở thành lẽ sống
 

mà người ta mong ước và phấn đấu thực hiện).
 

- Tại sao không có lí tưởng thì không có phương hướng
 

+ Không có mục tiêu phấn đáu cụ thể
 

+ Thiếu ý chí vươn lên để giành điều cao cả
 

+ Không có lẽ sống mà người ta mơ ước
 

- Tại sao không có phương hướng thì không có cuộc sống
 

+ Không có phương hướng phấn đấu thì cuộc sống con người sẽ tẻ nhạt, sống vô vị, không có ý nghĩa , sống thừa
 

+ Không có phương hướng trong cuộc sống giống người lần bước trong đêm tối không nhìn thấy đường.
 

+ Không có phương hướng, con người có thể hành động mù quáng nhiều khi sa vào vòng tội lỗi ( chứng minh )
 

- Suy nghĩ như thế nào ?
 

+ Vấn đè cần bình luận : con người phải sống có lí tưởng. Không có lí tưởng, con người thực sự sống không có ý nghĩa.
 

+ Vấn đề đặt ra hoàn toàn đúng.
 

+ Mở rộng :
 

* Phê phán những người sống không có lí tưởng
 

* Lí tưởng của thanh niênta ngày nay là gì ( Phấn đấu đẻ có nội lực mạnh mẽ, giỏi giang đạt đỉnh cao trí tuệ và luôn kết hợp với đạo lí)
 

* Làm thế nào để sống có lí tưởng
 

+ Nêu ý nghĩa của câu nói.
 


ĐỀ 4
 

Gớt nhận định : Một con người làm sao có thể nhận thức được chính mình . Đó không phải là việc của tư duy mà là của thực tiễn . Hãy ra sức thực hiện bổn phận của mình, lúc đó bạn lập tức hiểu được giá trị của chính mình.
 

Anh (chị ) hiểu và suy nghĩ gì .
 


Sau khi vào đề bài viết cần đạt được các ý
 

- Hiểu câu nói ấy như thế nào ?
 

+ Thế nào là nhận thức ( thuộc phạm trù của tư duytrước cuộc sống. Nhận thức về lẽ sống ở đời, về hành động của người khác, về tình cảm của con người).
 

+ Tại sao con người lại không thể nhận thức được chính mình lại phải qua thực tiễn .
 

* Thực tiễn là kết quả đẻ đánh giá, xem xét một con người .
 

* Thực tiễn cũng là căn cứ để thử thách con người .
 

* Nói như Gớt : "Mọi lí thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi."
 

- Suy nghĩ
 

+ Vấn đề bình luận là : Vai trò thực tiễn trong nhận thức của con người.
 

+ Khẳng định vấn đề : đúng
 

+ Mở rộng : Bàn thêm về vai trò thực tiễn trong nhận thức của con người.
 

* Trong học tập, chon nghề nghiệp. 


* Trong thành công cũng như thất bại, con ngưoiừ biết rút ra nhận thức cho mình phát huy chỗ mạnh. Hiểu chính mình con người mới có cơ may thnàh đạt.
 

+ Nêu ý nghĩa lời nhận định của Gớt
 

ĐỀ 5
 

Bác Hồ dạy : "Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hăng hái, cần kiệm, xóa bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động" . Anh (chị ) hiểu và suy nghĩ gì 


Sau khi vào đề bài viết cần đạt được các ý
 

- Hiểu câu nói ấy như thế nào ?
 

+ Giải thích các khái niệm.
 

* Thế nào là đức tính trong sạch ( giữ gìn bản chất tốt đẹp, không làm việc xấu ảnh hưởngđến đạo đức con người.)
 

* Thế nào là chất phác ( chân thật, giản dị hòa với đời thường, không làm việc xấu ảnh hưởng tới đạo đức con người)
 

* Thế nào là đức tính cần kiệm ( siêng năng, tằn tiện)
 

+ Tại sao con người phải có đức tính trong sạch, chất phác hăng hái cần kiệm?
 

* Đây là ba đức tính quan trọng của con người : cần kiệm, liêm chính, chân thật ( liêm là trong sạch ).
 

* Ba đức tính ấy giúp con người hành trình trong cuộc sống.
 

* Ba đức tính ấy làm nên người có ích.
 

- Suy nghĩ
 

+ Vấn đè cần bình luận là gì ?
 

Bác nêu phẩm chất quan trọng, cho đó là mục tiêu để mọi người phấn đấu rèn luyện. Đồng thời Người yêu cầu xóa bỏ những biểu hiện của tư tưởng, hành động nô lệ, cam chịu trong mỗi chúng ta.
 

+ Khẳng định vấn đề : đúng
 

+ Mở rộng :
 

* Làm thế nào để rèn luyện 3 đức tính Bác nêu và xóa bỏ tư tưởng, hành động nô lệ.
 

* Phê phán những biểu hiện sai trái
 

* Nêu ý nghĩa vấn đề.
 

ĐỀ: 6
 

"Một quyển sách tốt là một người bạn hiền"
 

Hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên
 

I/ Mở bài:
 

Sách là một phwong tiện quan trọng giúp ta rất nhiều trong quá trình học tập và rèn luyện, giúp ta giải đáp thắc mắc, giải trí...Do đó, có nhận định" Một quyển sách tốt là người bạn hiền
 

II/ Thân bài
 

1/ Giải thích Thế nào là sách tốt và tại sao ví sách tốt là người bạn hiền
 

+ Sách tốt là loại sách mở ra co ta chân trời mới, giúp ta mở mang kiến thức về nhiều mặt: cuộc sống, con người, trong nước, thế giới, đời xưa, đời nay, thậm chí cả những dự định tương lai, khoa học viễn tưởng.
 

+ Bạn hiền đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống. Do tác dụng tốt đẹp như nhau mà có nhận định ví von "Một quyển sách tốt là một người bạn hiền".
 

2/ Phân tích, chứng minh vấn đề
 

+ Sách tốt là người bạn hiển kể cho ta bao điều thương, bao kiếp người điêu linh đói khổ mà vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình: 


- Ví dụ để hiểu được số phận người nông dân trước cách mạng không gì bằng đọc tác phẩm tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam Cao.
 

- Sách cho ta hiểu và cảm thông với bao kiếp người, với những mảnh đời ở những nơi xa xôi, giúp ta vươn tới chân trời của ước mơ, ước mơ một xã hội tốt đẹp.
 

+ Sách giúp ta chia sẻ, an ủi những lúc buồn chán: Truyện cổ tích, thần thoại,...
 

3/ Bàn bạc, mở rộng vấn đề
 

+ Trong xã hội có sách tốt và sách xấu, bạn tốt và bạn xấu.
 

+ Liên hệ với thực tế, bản thân:
 


ĐỀ 7
 

Có người yêu thích văn chương, có người say mê khoa học. Hãy tìm nội dung tranh luận cho hai người ấy.
 


I/ Mở bài: Giới thiệu vai trò, tác dụng của văn chương và khoa học. Nêu nội dung yêu cầu đề
 

II/ Thân bài:
 

1/ Tìm lập luận cho người yêu khoa học
 

+ Khoa học đạt được những thành tựu rực rỡ với những phát minh có tính quyết định đưa loài người phát triển.
 

- Hàng trăm phát minh khoa học: máy móc, hạt nhân,...Tất cả đã đẩy mạnh mọi lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa, giáo dục,...
 

- Ví dụ: Sách vở nhờ kĩ thuật in ấn, con người mới ghi chép được
 

+ Nhờ khoa học mà con người mới khám phá ra được những điều bí ẩn trong vũ trụ, về con người. Đời sống con người mới phát triển nâng cao.
 

+ Trái với lợi ích của khoa học, văn chương không mang lại điều gì cho xã hội: lẫn lộn thực hư, mơ mộng viển vông; chỉ để tiêu khiển, đôi khi lại có hại...
 

2/ Lập luận của người yêu thích văn chương
 

+ Văn chương hình thành và phát triển đạo đức con người, hướng con người đến những điều: chân, thiện, mỹ.
 

+ Văn chương hun đúc nghị lực, rèn luyện ý chí, bản lĩnh cho ta
 

+ Văn chương còn là vũ khí sắc bén để đấu tranh cho độc lập dân tộc.
 

+ Trái với mọi giá trị về tư tưởng, tình cảm mà văn chương hình thành cho con người. Khoa học kĩ thuật chỉ mang lại một số tiến nghi vật chất cho con người, mà không chú ý đến đời sống tình cảm, làm con người sống bàng quang, thờ ơ, lạnh lùng. Hơn nữa khoa học kĩ thuật có tiến bộ như thế nào mà không được soi rọi dưới ánh sáng của lương tri con người sẽ đẩy nhân loại tới chỗ bế tắc.
 

III/ Kết luận: Khẳng định vai trò cả hai (Vật chất và tinh thần)
 

ĐỀ 8:
 

"Điều gì phải thì cố làm cho kì được dù là điều phải nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ"
 

Suy nghĩ về lời dạy của Bác Hồ.
 


I/ Mở bài:
 

Giới thiệu lời dạy của Bác.
 

II/ Thân bài
 

1/ Giải thích câu nói
 

+ Điều phải là gì? Điều phải nhỏ là gì? Điều phải là những điều đúng, điều tốt, đúng với lẽ phải, đúng với quy luật, tốt với xã hội với mọi người, với tổ quốc, dân tộc. Ví dụ
 

+ Điều trái là gì? Điều trái nhỏ là gì?
 

=> Lời dạy của Bác Hồ: Đối với điều phải, dù nhỏ, chúng ta phải cố sức làm cho kì được, tuyệt đối không được có thái độ coi thường những điều nhỏ. Bác cũng bảo chúng ta: đối với điều trái, dù nhỏ cũng phải hết sức tránh tức là đừng làm và tuyệt đối không được làm.
 

2/ Phân tích chứng minh vấn đề
 

+ Vì sao điều phải chúng ta phải cố làm cho kì được, dù là nhỏ? Vì việc làm phản ánh đạo đức của con người. Nhiều việc nhỏ hợp lại sẽ thành việc lớn.
 

+ Vì sao điều trái lại phải tránh. Vì tất cả đều có hại cho mình và cho người khác. Làm điều trái, điều xấu sẽ trở thành thói quen.


3/ Bàn bạc mở rộng vấn đề
 

+ Tác dụng của lời dạy: nhận thức, soi đường.
 

+ Phê phán những việc làm vô ý thức, thiếu trách nhiệm.
 


ĐỀ 9
 

" Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương".
 

(Nam Cao)
 

Suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên.
 

HƯỚNG DẪN:
 


1/: Giải thích ý kiến của Nam Cao:
 

Cẩu thả: làm việc thiếu trách nhiệm, vội vàng, hời hợt, không chú ý đến kết quả. Bất lương: không có lương tâm.
 

Nam Cao phê phán với một thái độ mạnh mẽ, dứt khoát (dùng câu khẳng định): cẩu thả trong công việc là biểu hiện của thái độ vô trách nhiệm, của sự bất lương.( Vấn đề cần nghị luận)
 

2/ Phân tích, chứng minh, bàn luận vấn đề: Vì sao lại cho rằng cẩu thả trong công việc là biểu hiện của thái độ vô trách nhiệm, của sự bất lương. Vì:
 

+Trong bất cứ nghề nghiệp, công việc gì, cẩu thả, vội vàng cũng đồng nghĩa với gian dối, thiếu ý thức, 


+ Chính sự cẩu thả trong công việc sẽ dẫn đến hiệu quả thấp kém, thậm chí hư hỏng, dẫn đến những tác hại khôn lường.
 

3/ Khẳng định, mở rọng vấn đề:
 

Mỗi người trên bất cứ lĩnh vực, công việc gì cũng cần cẩn trọng, có lương tâm, tinh thần trách nhiệm với công việc; coi kết quả công việc là thước đo lương tâm, phẩm giá của con người.
 

Thực chất, Nam Cao muốn xây dựng, khẳng định một thái độ sống có trách nhiệm, gắn bó với công việc, có lương tâm nghề nghiệp. Đó là biểu hiện của một nhân cách chân chính.
 

Đối với thực tế, bản thân như thế nào?
 

Thầy Phan Danh Hiếu ( Thành phố Biên Hòa. Đồng Nai)


Theo: Shopkienthuc
Nguồn: KienThucViet.Net