Browsing "Older Posts"
Browsing Category
"Sử Thi"
Đamsan kể về chiến thắng Mơtao Moxay
By Sáng →
Bảo Ngân-10A9
Ở Việt Nam có hai looaị sử thi là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng trong đó Đăm-Săn là một sử thi anh hùng của người Ê-đê. Trong câu chuyện đó Đăm-Săn chính là ta một tù trưởng anh hùng, ta đã có những chiến công lớn trong lao động như thần phục voi dữ, làm rẫy, bắt cá,…và trong đó chiến thắng tù trưởng Mtao Mxây đã giúp cho buôn làng của ta trở nên giàu có hơn từ đó. Và nếu các bạn muốn nghe câu chuyện về chiến thắng Mtao Mxây ta sẽ kể cho các bạn nghe..
Câu chuyện bắt đầu khi ta đến nhà Mtao Mxây, ta đã nói rằng:” Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!” nhưng Mtao Mxâyđã đáp rằng:”Ta không xuống đâu diêng ơi!”. Hắn ta không muốn xuống ta lại càng nóng lòng muốn hắn xuống và hắn nhất quyết không xuống cho đến khi ta doạ sẽ lấy cái hiên của hắn bổ đôi, ta doạ lấy cái cầu thang của hắn để chẻ ra để kéo lửa và hun cái nhà của hắn. Đến lúc này hắn mới nói rằng:” Để ta xuống. Ngươi không được đâm ta đang xuống, nghe!” điều này chứng tỏ hắn sợ hãi vì sợ ta sẽ đâm hắn, nhưng ta sẽ không làm như vậy đâu. Khi Mtao Mxâyđi ra mọi người xem khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng, còn cái dáng đi của hắn thì tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo. Khi ta bảo Mtao Mxây múa trước thì hắn ta lại bảo ngược lại rằng ta mới phải là người múa trước nhưng sau đó thì hắn cũng phải múa trước ta. Lúc Mtao Mxây rung khiên múa, khiên của hắn kêu lạch xạch như 1 quả mướp khô điều đó cho thấy cách múa khiên của hắn quả thật là thiếu sức sống sự dứt khoát. Sau đó hắn đã ba hoa, khoát lát rằng :” Ta học ai à! Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần rồng, ta học thần rồng” và khi đến lượt ta múa mỗi lần xốc tới, ta vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, ta vượt một đồi lồ ô. Còn Mtao Mxây thì bước cao thấp chạy đến bãi tây rồi sang bãi đông. Khi Mtao Mxây vugn dao chém phập một cái nhưng chỉ trúng 1 cái chảo cột trâu. Đến lúc này, Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miếng trầu nhưng ta đã đớp được miếng trầu. Ta nhai trầu sức mạnh tăng lên gấp bội . Thế là ta lại múa. Ta múa trên cao, gió như bão, Ta múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lốc. Cây cối chết trụ. Khi ta múa trân cao vang lên tiếng đĩa khiên lênh. Cây giáo thần, cây giáo dính đầy những oan hồn của ta nhằm đùi Mtao Mxây phóng tới nhưng không thủng, ta đâm vào người hắn cũng không thủng, lúc này ta đã thấm mệt. Ta vừa chạy vừa ngủ và ta đã mộng thấy ông trời, ta than rằng:” ối chao, chết mất thôi ông ơi! Cháu đâm mãi mà không thủng hắn!” ông trời đã đáp rằng:” thế ư cháu! vậy cháu lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được. Ta bừng tỉnh và làm theo những lời ông trời vừa mách bảo tức thì áo giáp của hắn ta rơi loảng choảng. Hắn tháo chạy và trốn quanh chồng lợn rồi lại trốn quanh chồng trâu vì khi đến chuồng nào ta lại phá tan chuồng nấy. Cuối cùng rồi thì ta cũng đã cắt đầu Mtao Mxây đem bếu ngoài đường.
Vì do ta đã có được những tình cảm cao cảnhất như lòng danh dự, gắn bó với hạnh phúcgia đình và thiết tha với cuộc sốngbình yên, phồn thịnh của thị tộc đã thôi thúc ta chiến đấu và đã chiến thắng kẻ thù
Ở Việt Nam có hai looaị sử thi là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng trong đó Đăm-Săn là một sử thi anh hùng của người Ê-đê. Trong câu chuyện đó Đăm-Săn chính là ta một tù trưởng anh hùng, ta đã có những chiến công lớn trong lao động như thần phục voi dữ, làm rẫy, bắt cá,…và trong đó chiến thắng tù trưởng Mtao Mxây đã giúp cho buôn làng của ta trở nên giàu có hơn từ đó. Và nếu các bạn muốn nghe câu chuyện về chiến thắng Mtao Mxây ta sẽ kể cho các bạn nghe..
Câu chuyện bắt đầu khi ta đến nhà Mtao Mxây, ta đã nói rằng:” Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!” nhưng Mtao Mxâyđã đáp rằng:”Ta không xuống đâu diêng ơi!”. Hắn ta không muốn xuống ta lại càng nóng lòng muốn hắn xuống và hắn nhất quyết không xuống cho đến khi ta doạ sẽ lấy cái hiên của hắn bổ đôi, ta doạ lấy cái cầu thang của hắn để chẻ ra để kéo lửa và hun cái nhà của hắn. Đến lúc này hắn mới nói rằng:” Để ta xuống. Ngươi không được đâm ta đang xuống, nghe!” điều này chứng tỏ hắn sợ hãi vì sợ ta sẽ đâm hắn, nhưng ta sẽ không làm như vậy đâu. Khi Mtao Mxâyđi ra mọi người xem khiên hắn tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng, còn cái dáng đi của hắn thì tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo. Khi ta bảo Mtao Mxây múa trước thì hắn ta lại bảo ngược lại rằng ta mới phải là người múa trước nhưng sau đó thì hắn cũng phải múa trước ta. Lúc Mtao Mxây rung khiên múa, khiên của hắn kêu lạch xạch như 1 quả mướp khô điều đó cho thấy cách múa khiên của hắn quả thật là thiếu sức sống sự dứt khoát. Sau đó hắn đã ba hoa, khoát lát rằng :” Ta học ai à! Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần rồng, ta học thần rồng” và khi đến lượt ta múa mỗi lần xốc tới, ta vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, ta vượt một đồi lồ ô. Còn Mtao Mxây thì bước cao thấp chạy đến bãi tây rồi sang bãi đông. Khi Mtao Mxây vugn dao chém phập một cái nhưng chỉ trúng 1 cái chảo cột trâu. Đến lúc này, Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miếng trầu nhưng ta đã đớp được miếng trầu. Ta nhai trầu sức mạnh tăng lên gấp bội . Thế là ta lại múa. Ta múa trên cao, gió như bão, Ta múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lốc. Cây cối chết trụ. Khi ta múa trân cao vang lên tiếng đĩa khiên lênh. Cây giáo thần, cây giáo dính đầy những oan hồn của ta nhằm đùi Mtao Mxây phóng tới nhưng không thủng, ta đâm vào người hắn cũng không thủng, lúc này ta đã thấm mệt. Ta vừa chạy vừa ngủ và ta đã mộng thấy ông trời, ta than rằng:” ối chao, chết mất thôi ông ơi! Cháu đâm mãi mà không thủng hắn!” ông trời đã đáp rằng:” thế ư cháu! vậy cháu lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được. Ta bừng tỉnh và làm theo những lời ông trời vừa mách bảo tức thì áo giáp của hắn ta rơi loảng choảng. Hắn tháo chạy và trốn quanh chồng lợn rồi lại trốn quanh chồng trâu vì khi đến chuồng nào ta lại phá tan chuồng nấy. Cuối cùng rồi thì ta cũng đã cắt đầu Mtao Mxây đem bếu ngoài đường.
Vì do ta đã có được những tình cảm cao cảnhất như lòng danh dự, gắn bó với hạnh phúcgia đình và thiết tha với cuộc sốngbình yên, phồn thịnh của thị tộc đã thôi thúc ta chiến đấu và đã chiến thắng kẻ thù
Tóm tắt sử thi “Ô-đi-xê” (Homero)
By Sáng →
Ô-đi-xê là bộ sử thi nổi của người Hi Lạp là bài ca về chàng Uy-lít-xơ, gồm 12110 câu thơ được chia thành 24 khúc ca, nối tiếp câu chuyện trong I-li-át.
Sau chiến thắng thành Tơ-roa, trên đường trở về quê hương, Uy-lit-xơ bị nữ thần Ca-lip-xô cầm giữ. Chàng cầu xin thần Dớt và rồi nữ thần Ca-lip-xô buộc phải để chàng đi. Nhưng rồi bị bão đánh chìm bè trôi dạt đến xứ xở của vua An-ki-nô-ốt. Tại đây chàng được nhà vua và công chúa tiếp đãi tử tế. Chàng kể lại hành trình phiêu lưu mạo hiểm trong suốt 10 năm qua các miền đất lạ cho nhà vua. Được vua An-ki-nô-ốt giúp đỡ chàng trở về quê hương sau 20 năm xa cách.
Về tới nhà, Uy-lit-xơ phải đối mặt với bọn cầu hôn xảo quyệt hung hãn. Chàng cùng con trai và gia nhân trung thành lập mưu trừng trị bọn chúng và bọn gia nhân phản bội. Chàng vượt qua thử thách của vợ về bí mật chiếc giường. Kết thúc thiên sử thi là việc nữ thần A-tê-na đứng ra hoà giải tất cả những mâu thuẫn và xung đột. Gia đình đoàn tụ, cuộc sống mới bắt đầu trên quê hương yêu dấu của chàng.
Hình tượng Uy-lit-xơ là biểu tượng về sức mạnh của trí tuệ, ý chí, nghị lực của con người Hi Lạp. Sử thi Ô-đi-xê là bài ca lao động, hoà bình thể hiện cuộc sống và mơ ước của người Hi Lạp cổ đại trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, mở đất, khám phá biển cả, xây dựng hạnh phúc gia đình…
Sau chiến thắng thành Tơ-roa, trên đường trở về quê hương, Uy-lit-xơ bị nữ thần Ca-lip-xô cầm giữ. Chàng cầu xin thần Dớt và rồi nữ thần Ca-lip-xô buộc phải để chàng đi. Nhưng rồi bị bão đánh chìm bè trôi dạt đến xứ xở của vua An-ki-nô-ốt. Tại đây chàng được nhà vua và công chúa tiếp đãi tử tế. Chàng kể lại hành trình phiêu lưu mạo hiểm trong suốt 10 năm qua các miền đất lạ cho nhà vua. Được vua An-ki-nô-ốt giúp đỡ chàng trở về quê hương sau 20 năm xa cách.
Về tới nhà, Uy-lit-xơ phải đối mặt với bọn cầu hôn xảo quyệt hung hãn. Chàng cùng con trai và gia nhân trung thành lập mưu trừng trị bọn chúng và bọn gia nhân phản bội. Chàng vượt qua thử thách của vợ về bí mật chiếc giường. Kết thúc thiên sử thi là việc nữ thần A-tê-na đứng ra hoà giải tất cả những mâu thuẫn và xung đột. Gia đình đoàn tụ, cuộc sống mới bắt đầu trên quê hương yêu dấu của chàng.
Hình tượng Uy-lit-xơ là biểu tượng về sức mạnh của trí tuệ, ý chí, nghị lực của con người Hi Lạp. Sử thi Ô-đi-xê là bài ca lao động, hoà bình thể hiện cuộc sống và mơ ước của người Hi Lạp cổ đại trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, mở đất, khám phá biển cả, xây dựng hạnh phúc gia đình…
Tóm tắt sử thi "Đăm-săn"(Ê-đê).
By Sáng →
(Kiến thức tối thiểu cần đạt)
Đây là bộ sử thi của người Ê-đê.
- Theo tục nối dây ĐS về làm chồng Hnhi và Hbhi trở thành 1 tù trưởng giàu mạnh. ĐS có nhiều chiến công lừng lẫy (đánh bại kẻ thù là Mtao Grư và Mtao Mxây giành lại vợ, đem lại sự giàu có, uy danh cho mình và cho cả cộng đồng)
- ĐS vượt qua mọi trở ngại của XH( chặt cây smuk, cây linh hồn của vợ) và có khát vọng lớn lao chinh phục thế giới tự nhiên ( cầu hôn nữ thần Mặt Trời) nhưng thất bại và bị chết trong rừng Sáp Đen
- Sau khi ĐS chết, ĐS cháu ra đời lại tiếp tục con đường của cậu mình
à khát vọng lớn của người Ê-Đê trong => bức tranh về cuộc sống, về con người, về thiên nhiên hùng vĩ, kì diệu.
Đây là bộ sử thi của người Ê-đê.
- Theo tục nối dây ĐS về làm chồng Hnhi và Hbhi trở thành 1 tù trưởng giàu mạnh. ĐS có nhiều chiến công lừng lẫy (đánh bại kẻ thù là Mtao Grư và Mtao Mxây giành lại vợ, đem lại sự giàu có, uy danh cho mình và cho cả cộng đồng)
- ĐS vượt qua mọi trở ngại của XH( chặt cây smuk, cây linh hồn của vợ) và có khát vọng lớn lao chinh phục thế giới tự nhiên ( cầu hôn nữ thần Mặt Trời) nhưng thất bại và bị chết trong rừng Sáp Đen
- Sau khi ĐS chết, ĐS cháu ra đời lại tiếp tục con đường của cậu mình
à khát vọng lớn của người Ê-Đê trong => bức tranh về cuộc sống, về con người, về thiên nhiên hùng vĩ, kì diệu.
Kể về Sử thi Đamsan
By Sáng →
TÊN : LÂM HÙYNH NHƯ
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
Sử thi Ramayana
By Sáng →
Đề : Kể lại truyện Ramayana
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
By Sáng →
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Xuân Quỳnh
Lớp: 10A8 Tổ:1
Đề bài: Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Những trang văn bất diệt của Hô-me-rơ vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay mà một trong số đó là sử thi Ô-đi-xê. Khúc ca thứ 23 của bản anh hùng ca này đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, với tấm lòng thủy chung nhưng cũng không kém phần thông minh.
Quả là những giông tố lớn trong cuộc hôn nhân của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp khi Uy-lít-xơ chinh chiến ròng rã 10 năm ở thành Tơ-roa, chàng lại mất thêm 10 năm nữa để thoát khỏi sự giam cầm của nữ thần Ca-líp-xô và rời khỏi xứ sở của vua An-ki-nô-ốt. Trong khi ấy, Pê-nê-lốp cùng người con trai Tê-lê-mác đang phải đối mặt với 108 kẻ quyền quý đến cầu hôn chỉ hòng chiếm đoạt gia sản của chàng. Thật may mắn khi lúc ấy Uy-lít-xơ đã trở về, dưới dạng người hành khất, chàng cùng con trai đã chiến thắng trong cuộc thi chọn chồng mà Pê-nê-lốp tổ chức, đánh đuổi được bọn cầu hôn hung hãn và lũ đầy tớ phản chủ.
Khi nhũ mẫu Ơ-ri-clê rửa chân cho Uy-lít-xơ, già đã nhận ra vết sẹo mà Uy-lít-xơ bị lợn lòi húc ngày trước, nhưng khi già kể lại cho Pê-nê-lốp, nàng lại ngờ vực điều đó, nàng xuống lầu và mặt đối mặt với Uy-lít-xơ, nàng rất đỗi phân vân không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế, có lúc lòng nàng đầy sửng sốt, nhìn chồng mình một cách âu yếm, nhưng khi lại không nhận ra bộ dạng xa lạ của Uy-lít-xơ. Tê-lê-mác lấy làm lạ và hết lời trách móc Pê-nê-lốp, nhưng nàng từ tốn và thận trọng giải thích cho người con trai, về phía Uy-lít-xơ, với một trí tuệ thông minh và phong thái điềm tĩnh, chàng buông lời trấn an con trai, chàng dễ dàng hiểu cho sự thận trọng, khôn ngoan của người vợ cũng như đoán rằng vợ chàng còn muốn thử thách chàng sự thật.
Ngay khi đó, Pê-nê-lốp đã nhanh trí nghĩ đến những dấu hiệu riêng mà chỉ có vợ chồng nàng biết với nhau. Pê-nê-lốp khôn khéo gợi nhắc chồng mình về chiếc giường hạnh phúc của họ năm xưa nay đã bị dời khỏi vị trí cũ, bởi nếu ngồi trước mặt nàng đây là Uy-lít-xơ thì chàng sẽ nhắc tới nó ngay. Quả đúng như thế, một Uy-lít-xơ chung tình và thông minh đã miêu tả chính xác chiếc giường ấy, chiếc giường mà thế gian chỉ một bởi Uy-lít-xơ đã đẽo ra nó từ một cây ôliu lá dài, rồi lấy vàng bạc, ngà nạm dát vào để trang trí sau đó mới dựng nên căn phòng của hai vợ chồng xung quanh cây. Uy-lít-xơ vừa dứt câu cũng là lúc Pê-nê-lốp điêu đứng, mọi nghi ngờ đều đã được hóa giải, nỗi xúc động trào dâng mãnh liệt khiến nàng phải đầm đìa nước mắt là chạy lại ôm hôn âu yếm Uy-lít-xơ. Trong nước mắt, nàng giải thích mọi hành động khó hiểu và lạnh lùng của mình khi trước, Uy-lít-xơ cũng chẳng thể điềm tĩnh trước tình yêu chân thành của Pê-nê-lốp, họ cùng khóc, cùng ôm lấy nhau và hạnh phúc như những ngày mới biết yêu. Uy-lít-xơ có thể khôn ngoan khi gặp lại Pê-nê-lốp, nhưng với Pê-nê-lốp, một người phụ nữ khi mọi nghi ngờ đã được giải tỏa, khi được gặp lại bóng hình mà nàng đã mỏi mòn thương nhớ bấy lâu, không còn gì có thể vui mừng hơn thế!
Với quá nhiều cung bậc cảm xúc và những diễn biến tâm lý phức tạp của một phụ nữ, truyện đã xây dựng được một bố cục hợp lý: một nút thắt căng thẳng đẩy Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ vào tình huống phải đấu trí với nhau và sau đó là cao trào được hóa giải, cảm xúc nghẹn ngào. Qua đó, hình thành nên những tính cách nhân vật tiêu biểu cho con người Hy Lạp thời bấy giờ: phụ nữ cần yêu tha thiết, mãnh liệt, trái tim phụ nữ cẩn trọng, thủy chung, khôn ngoan mà cũng biến hóa khó lường, đàn ông điềm tĩnh, yêu giận rõ ràng, giàu trí tuệ và cảm xúc như Uy-lít-xơ. Tình huống truyện đưa ra cũng đã lay động những trái tim biết yêu thương về bài học phải biết dũng cảm, khôn khéo đương đầu với mọi thử thách dù là trong cuộc sống hay trong tình yêu, từ đó mọi ước vọng của con người sẽ được toại nguyện. Một cốt truyện miêu tả những cung bậc cảm xúc mãnh liệt như thế, với những hình mẫu nhân vật hết sức lý tưởng thì dễ dàng chinh phục những trái tim tuổi hồng đầy mơ mộng như tôi.
Qua những thử thách, gian nan mà Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ phải đối mặt, truyện ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần có, từ đó thể hiện những lối ứng xử có tình có lý mà ta nên học hỏi. Nhưng với tính chất là truyện sử thi, câu chuyện còn cho thấy quá trình con người Hy Lạp chinh phục thiên nhiên, giải quyết các xung đột xã hội và gia đình, sử thi Ô-đi-xê xứng đáng là bộ truyện sử thi đại diện cho hình ảnh đất nước, con người Hy Lạp.
Lớp: 10A8 Tổ:1
Đề bài: Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Những trang văn bất diệt của Hô-me-rơ vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay mà một trong số đó là sử thi Ô-đi-xê. Khúc ca thứ 23 của bản anh hùng ca này đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, với tấm lòng thủy chung nhưng cũng không kém phần thông minh.
Quả là những giông tố lớn trong cuộc hôn nhân của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp khi Uy-lít-xơ chinh chiến ròng rã 10 năm ở thành Tơ-roa, chàng lại mất thêm 10 năm nữa để thoát khỏi sự giam cầm của nữ thần Ca-líp-xô và rời khỏi xứ sở của vua An-ki-nô-ốt. Trong khi ấy, Pê-nê-lốp cùng người con trai Tê-lê-mác đang phải đối mặt với 108 kẻ quyền quý đến cầu hôn chỉ hòng chiếm đoạt gia sản của chàng. Thật may mắn khi lúc ấy Uy-lít-xơ đã trở về, dưới dạng người hành khất, chàng cùng con trai đã chiến thắng trong cuộc thi chọn chồng mà Pê-nê-lốp tổ chức, đánh đuổi được bọn cầu hôn hung hãn và lũ đầy tớ phản chủ.
Khi nhũ mẫu Ơ-ri-clê rửa chân cho Uy-lít-xơ, già đã nhận ra vết sẹo mà Uy-lít-xơ bị lợn lòi húc ngày trước, nhưng khi già kể lại cho Pê-nê-lốp, nàng lại ngờ vực điều đó, nàng xuống lầu và mặt đối mặt với Uy-lít-xơ, nàng rất đỗi phân vân không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế, có lúc lòng nàng đầy sửng sốt, nhìn chồng mình một cách âu yếm, nhưng khi lại không nhận ra bộ dạng xa lạ của Uy-lít-xơ. Tê-lê-mác lấy làm lạ và hết lời trách móc Pê-nê-lốp, nhưng nàng từ tốn và thận trọng giải thích cho người con trai, về phía Uy-lít-xơ, với một trí tuệ thông minh và phong thái điềm tĩnh, chàng buông lời trấn an con trai, chàng dễ dàng hiểu cho sự thận trọng, khôn ngoan của người vợ cũng như đoán rằng vợ chàng còn muốn thử thách chàng sự thật.
Ngay khi đó, Pê-nê-lốp đã nhanh trí nghĩ đến những dấu hiệu riêng mà chỉ có vợ chồng nàng biết với nhau. Pê-nê-lốp khôn khéo gợi nhắc chồng mình về chiếc giường hạnh phúc của họ năm xưa nay đã bị dời khỏi vị trí cũ, bởi nếu ngồi trước mặt nàng đây là Uy-lít-xơ thì chàng sẽ nhắc tới nó ngay. Quả đúng như thế, một Uy-lít-xơ chung tình và thông minh đã miêu tả chính xác chiếc giường ấy, chiếc giường mà thế gian chỉ một bởi Uy-lít-xơ đã đẽo ra nó từ một cây ôliu lá dài, rồi lấy vàng bạc, ngà nạm dát vào để trang trí sau đó mới dựng nên căn phòng của hai vợ chồng xung quanh cây. Uy-lít-xơ vừa dứt câu cũng là lúc Pê-nê-lốp điêu đứng, mọi nghi ngờ đều đã được hóa giải, nỗi xúc động trào dâng mãnh liệt khiến nàng phải đầm đìa nước mắt là chạy lại ôm hôn âu yếm Uy-lít-xơ. Trong nước mắt, nàng giải thích mọi hành động khó hiểu và lạnh lùng của mình khi trước, Uy-lít-xơ cũng chẳng thể điềm tĩnh trước tình yêu chân thành của Pê-nê-lốp, họ cùng khóc, cùng ôm lấy nhau và hạnh phúc như những ngày mới biết yêu. Uy-lít-xơ có thể khôn ngoan khi gặp lại Pê-nê-lốp, nhưng với Pê-nê-lốp, một người phụ nữ khi mọi nghi ngờ đã được giải tỏa, khi được gặp lại bóng hình mà nàng đã mỏi mòn thương nhớ bấy lâu, không còn gì có thể vui mừng hơn thế!
Với quá nhiều cung bậc cảm xúc và những diễn biến tâm lý phức tạp của một phụ nữ, truyện đã xây dựng được một bố cục hợp lý: một nút thắt căng thẳng đẩy Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ vào tình huống phải đấu trí với nhau và sau đó là cao trào được hóa giải, cảm xúc nghẹn ngào. Qua đó, hình thành nên những tính cách nhân vật tiêu biểu cho con người Hy Lạp thời bấy giờ: phụ nữ cần yêu tha thiết, mãnh liệt, trái tim phụ nữ cẩn trọng, thủy chung, khôn ngoan mà cũng biến hóa khó lường, đàn ông điềm tĩnh, yêu giận rõ ràng, giàu trí tuệ và cảm xúc như Uy-lít-xơ. Tình huống truyện đưa ra cũng đã lay động những trái tim biết yêu thương về bài học phải biết dũng cảm, khôn khéo đương đầu với mọi thử thách dù là trong cuộc sống hay trong tình yêu, từ đó mọi ước vọng của con người sẽ được toại nguyện. Một cốt truyện miêu tả những cung bậc cảm xúc mãnh liệt như thế, với những hình mẫu nhân vật hết sức lý tưởng thì dễ dàng chinh phục những trái tim tuổi hồng đầy mơ mộng như tôi.
Qua những thử thách, gian nan mà Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ phải đối mặt, truyện ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần có, từ đó thể hiện những lối ứng xử có tình có lý mà ta nên học hỏi. Nhưng với tính chất là truyện sử thi, câu chuyện còn cho thấy quá trình con người Hy Lạp chinh phục thiên nhiên, giải quyết các xung đột xã hội và gia đình, sử thi Ô-đi-xê xứng đáng là bộ truyện sử thi đại diện cho hình ảnh đất nước, con người Hy Lạp.
Subscribe to:
Posts
(
Atom
)
