Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Công nghệ sinh học"

Con người có thể tái sinh chân, tay đã mất

By Anonymous →
Một phát hiện mới của các nhà khoa học trong cơ thể kỳ giông có thể giúp con người tìm ra liệu pháp phục hồi những chân, tay cụt.

Nếu chân hay dây thần kinh cột sống của kỳ giông đứt, chúng có thể phục hồi nhờ khả năng đặc biệt của hệ miễn dịch. Thậm chí chúng còn có thể phục hồi các mô não hay mô tim.


Phát hiện của các nhà khoa học tại Đại học Monash mang đến hy vọng cho những người mất chân, tay. (Ảnh: nydailynews.com)

Để tìm hiểu khả năng tái sinh các bộ phận cơ thể của kỳ giông, một nhóm chuyên gia của Đại học Monash tại Australia đã phân tích hệ miễn dịch của chúng. Họ chú ý tới macrophage - một loại tế bào miễn dịch, Science Daily đưa tin. Khi nhóm nghiên cứu loại bỏ macrophage, những chi bị đứt của kỳ giông không thể phục hồi. Thực tế đó cho thấy macrophage chính là loại tế bào giúp kỳ giông phục hồi những bộ phận cơ thể đã mất.

"Phát hiện của chúng tôi giúp giới khoa học hiểu rõ hơn những điều kiện cần thiết cho việc tái tạo bộ phận cơ thể. Chúng ta có thể kiểm soát quá trình ấy và thậm chí có thể đưa nó vào cơ thể người", tiến sĩ James Godwin, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu.

Ngoài ra, theo Godwin, việc nghiên cứu khả năng tái sinh của kỳ giông có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những liệu pháp mới để điều trị bệnh tim, bệnh thận, tổn thương dây thần kinh và nhiều bệnh khác.

Một số nghiên cứu trước đây cho thấy nhiều loài động vật có khả năng phục hồi các chi bị đứt. Nhưng dần dần khả năng ấy biến mất trong quá trình tiến hóa.

"Rất có thể khả năng tái sinh vẫn ẩn nấp trong cơ thể người. Chúng tôi hy vọng các nhà khoa học sẽ đánh thức khả năng ấy. Họ cần biết chính xác quá trình tái sinh trong cơ thể kỳ giông để có thể tạo ra những liệu pháp tái sinh dành cho người", Godwin bình luận.
Theo VNE

Vẫn có thể hồi sinh người đã chết

By Anonymous →
(Blog sinh học) Một bác sĩ tuyên bố rằng, con người có thể hồi sinh vài giờ sau khi họ dường như đã chết. Điều này mở ra hy vọng về việc cứu sinh mạng người từ tay của tử thần.

Bà Carol Brothers, 63 tuổi, không thể nhớ chính xác giây phút bà qua đời. Tuy nhiên, chồng của bà, David, có ký ức rõ ràng hơn về ngày đó cách đây 3 tháng, khi ông mở cửa ngôi nhà của họ ở Wiltshire và nhìn thấy vợ ngã lăn trên sàn, thở đứt quãng và sắc diện khuôn mặt nhanh chóng trở nên nhợt nhạt, tim ngừng đập.

May mắn thay, một người hàng xóm lớn tuổi nắm rõ các nguyên tắc cơ bản của việc cấp cứu hồi sinh tim - phổi (CPR) và nhanh chóng thực hiện những kỹ thuật đó.


Xe cấp cứu cũng mau chóng xuất hiện sau đó. Và khoảng 30 - 45 phút sau khi bà Carol bị đột quỵ (không ai nhớ rõ thời gian chính xác), tim bà Carol bắt đầu đập trở lại.

"Trong khi 45 phút là khoảng thời gian đủ dài để nhiều người tin đã vĩnh viễn mất bà ấy, chúng ta hiện biết một số trường hợp người vẫn được cứu khỏi tay tử thần 3, thậm chí 4 - 5 tiếng đồng hồ sau khi chết và về sau sống rất tốt", tiến sĩ Sam Parnia, giám đốc phụ trách nghiên cứu hoạt động hồi tỉnh tại Đại học Stony Brook nói.

Hầu hết mọi người coi việc tim ngừng đập đồng nghĩa với cái chết. Tuy nhiên, đây không phải là dấu chấm hết cho sự sống.

Các bác sĩ từ lâu tin rằng, nếu ai đó không có nhịp tim trong hơn 20 phút, bộ não của họ thường hứng chịu những tổn thương không thể cứu chữa được. Nhưng, theo tiến sĩ Parnia, hiện tượng này có thể phòng tránh được nhờ việc thực hiện tốt kỹ thuật CPR và chăm sóc sau hồi tỉnh cẩn thận.

Ông Parnia nhấn mạnh, điều tối quan trọng là ấn nén lồng ngực đúng tốc độ với lực phù hợp, giúp bệnh nhân không bị tràn ứ khí. Kỹ thuật CPR có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của máy móc. Các bác sĩ cũng có những cách thức mới để chăm sóc bệnh nhân sau khi tim của họ bắt đầu đập trở lại.

Như tiến sĩ Parnia lý giải trong cuốn sách mới của mình nhan đề "Hiệu ứng Lazarus" (hay"Xóa bỏ cái chết" trong ấn bản phát hành tại Mỹ), sau khi bộ não ngưng nhận nguồn cung oxy thường xuyên thông qua sự lưu thông máu, nó chưa bị diệt vong ngay lập tức mà rơi vào trạng thái ngủ đông - một cách chống lại quá trình tự phân rã.

Quá trình "đánh thức" bộ não ngủ đông như vậy có thể là thời điểm đầy rủi ro nhất, vì oxy có thể gây độc hại tiềm tàng ở giai đoạn này. Ông Parnia mô tả, hiệu ứng này giống như tác động của một đợt sóng thần tiếp sau một trận động đất, và cách ứng phó tốt nhất là làm mát bệnh nhân từ 37 độ C xuống còn 32 độ C.
"Liệu pháp làm mát thực sự hiệu quả vì nó làm chậm lại quá trình phân rã của các tế bào não", ông Parnia cho biết thêm.
Theo Vietnamnet

Liệu sinh học tổng hợp có bảo vệ được cuộc sống hoang dã?

By Anonymous →
(Blog sinh học) - Liệu ngành sinh học tổng hợp có thể cứu thế giới hoang dã? Từ tái tạo các loài tuyệt chủng cho tới nguy cơ các loài siêu biến đổi gene.

Lĩnh vực phát triển nhanh chóng của ngành sinh học tổng hợp sẽ gây tác động gì tới bảo tồn thiên nhiên? Những thách thức về sinh thái và đạo đức bắt nguồn từ câu hỏi này sẽ đòi hỏi một cuộc đối thoại mới và tiếp tục giữa các thành viên của ngành sinh học tổng hợp và các cơ quan bảo tồn đa dạng sinh học, theo tác giả của một bài báo mới cho biết.

Theo bài báo, lĩnh vực sinh học tổng hợp - một ngành sử dụng DNA tổng hợp hóa học để tạo ra các sinh vật nhằm giải quyết các nhu cầu của con người - đang phát triển nhanh chóng, với hàng tỉ đô la được đầu tư hàng năm. Nhiều lời tán dương cho các hiệu quả của sinh học tổng hợp như: cung cấp các giải pháp tiềm năng cho vấn đề sức khỏe của con người, an ninh lương thực và các nhu cầu năng lượng. Nhưng người ủng hộ sinh học tổng hợp cũng nhìn thấy trong các công cụ của sinh học tổng hợp có thể sử dụng để chống biến đổi khí hậu và tình trạng thiếu nước.

Trong khi đó những người chỉ trích cảnh báo rằng các sinh vật biến đổi gene có thể gây ra mối nguy hại cho các loài bản địa và các hệ sinh thái tự nhiên. Các tác giả của bài báo khẳng định rằng, trong bất kỳ kịch bản nào, một cuộc đối thoại về cách sử dụng và hạn chế các phương pháp sinh học tổng hợp và các sản phẩm của sinh học tổng hợp phải được khởi đầu vì lợi ích của toàn xã hội và những người ra quyết định.

Bài báo được công bố trong tạp chí trực tuyến PLoS Biology. Các tác giả của bài báo  bao gồm: Kent Redford thuộc Hiệp hội bảo tồn động thực vật hoang dã và tư vấn Archipelago, Bill Adams thuộc Đại học Cambridge, và Georgina M. Mace thuộc trường Đại học London (UCL).

"Hiện tại, ngành sinh học tổng hợp và các cơ quan bảo tồn là khá xa lạ với nhau, mặc dù cả hai đều có rất nhiều mối quan tâm chung và mục tiêu tương tự", ông Kent Redford, tác giả chính của bài báo cho hay. "Một cuộc thảo luận mở giữa hai cộng đồng là cần thiết để giúp xác định các lĩnh vực hợp tác về một chủ đề mà có thể sẽ thay đổi mối quan hệ của loài người với thế giới tự nhiên".

Các tác giả của bài báo, cùng với các nhà khoa học và các nhà bảo tồn khác, sẽ thảo luận về những tác động tiềm năng của sinh học tổng hợp có thể có lên thế giới tự nhiên và bảo tồn tại Hội nghị sinh học tổng hợp và Bảo tồn, dự kiến diễn ra tại trường Clare ở Cambridge, Anh, từ ngày 9 - 11 tháng 4.

John Robinson, giám đốc cơ quan bảo tồn WCS, nói: "Sinh học tổng hợp và một lĩnh vực rất quan trọng và là một lĩnh vực đang phát triển mạnh, nhưng hậu quả của nó tác động lên đa dạng sinh học và bảo tồn hiện chưa được nghiên cứu rõ. Bằng cách đối thoại giữa sinh học tổng hợp và bảo tồn, chúng tôi hy vọng sẽ đạt được một sự hiểu biết về các cơ hội của sinh học tổng hợp - và các tác động tiềm ẩn - tới bảo tồn tốt hơn".

Đồng tác giả Bill Adams đến từ trường Đại học Cambridge, cho biết: "Chiến lược của chúng ta để bảo tồn các hệ sinh thái, loài và đa dạng di truyền, được xây dựng trong thế kỷ qua, bị thách thức bởi sinh học tổng hợp. Quan hệ mật thiết của lĩnh vực đang nảy sinh này cần phải được đưa vào các lý thuyết và hành động bảo tồn để các nỗ lực bảo vệ đa dạng sinh học có hiệu quả".
Các tác giả giải thích sự cần thiết cho các chiến lược mới trong cộng đồng bảo tồn để đối phó với những thách thức của sinh học tổng hợp. Họ nhấn mạnh năm vấn đề nảy sinh đòi hỏi phải thảo luận và quyết định chính sách của các nhà khoa học bảo tồn và những người đang hoạt động trong lĩnh vực này. Các vấn đề bao gồm:

- Các khả năng tái tạo các loài đã tuyệt chủng.

- Các sinh vật tổng hợp sẽ tương tác với các loài đang tồn tại như thế nào.

- Định nghĩa hiện tại của chúng ta cái được gọi là "tự nhiên" là gì.

- Sử dụng sinh học tổng hợp để sản xuất các dịch vụ tự nhiên đối với con người (ví dụ như hấp thụ carbon, kiểm soát ô nhiễm).

- Việc sử dụng của sự sống tổng hợp cho lợi ích riêng, như trong các ứng dụng cho các quy trình công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Sự cân bằng phải trả giá giữa rủi ro và thành tựu so với lợi ích công cộng và tính an toàn.

Georgina M. Mace thuộc Trung tâm nghiên cứu Đa dạng sinh học và môi trường, UCL, đồng tác giả của bài báo cho biết: "Các cuộc thảo luận giữa bảo tồn và sinh học tổng hợp là một điều cần thiết. Chúng ta cần có xem xét kỹ càng các vấn đề và các quyết định có thể làm thay đổi toàn bộ sự sống trên trái đất".
Phạm Thị Bích Thu (Sciencedaily)

Cần nhanh khởi động ứng dụng với cây trồng sinh học

By Anonymous →


Blog sinh học: Theo thông báo của Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp (ISAAA), năm 2012 đánh dấu mức tăng kỷ lục 100 lần về diện tích canh tác cây trồng công nghệ sinh học.



Nuôi cấy mô tế bào sản xuất khoai tây giống sạch bệnh.

      Số liệu này tăng từ 1,7 triệu ha vào năm 1996 - năm đầu tiên cây trồng công nghệ sinh học được đưa vào canh tác đại trà (thương mại hóa), lên 170 triệu ha vào năm 2012.

      Tại hội nghị quốc tế về Triển vọng cây trồng công nghệ sinh học toàn cầu năm 2012 do Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và ISAAA tổ chức ngày 8/3, tiến sỹ Clive James, nhà sáng lập và là Chủ tịch ISAAA đánh giá, với mức tăng ấn tượng trên, cây trồng công nghệ sinh học trở thành công nghệ cây trồng được đưa vào ứng dụng nhanh nhất trong lịch sử cận đại.

Tiến sỹ Clive James đánh giá, Việt Nam là nước có tiềm năng ứng dụng ngô công nghệ sinh học trong khu vực châu Á, với diện tích khoảng 1 triệu ha.

Tuy nhiên, nếu Việt Nam không sớm khởi động chương trình ứng dụng đối với cây trồng công nghệ sinh học thì có thể sẽ bị các nước ở châu Phi vượt lên trước.

Tiến sỹ Clive James cho rằng hợp tác quốc tế tạo ra những cơ hội tốt nhất cho việc xóa đói giảm nghèo toàn cầu và thành công trong ngành nông nghiệp chính là ứng dụng công nghệ.

Theo ông Nguyễn Văn Tuất, Phó Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, ngô là cây trồng đang được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm và có tiềm năng để phát triển ứng dụng công nghệ sinh học.

Xu hướng phát triển này là tất yếu và đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực trên toàn cầu. Việt Nam sẽ nắm bắt những thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới để phát triển cây trồng công nghệ sinh học.
Báo cáo của ISAAA cho thấy Mỹ tiếp tục là nước có diện tích canh tác dẫn đầu với 69,5 triệu ha, với tỷ lệ áp dụng bình quân cây trồng công nghệ sinh học/tổng diện tích trồng là 90% đối với tất cả các loại cây trồng.
Brazil được ví như là động lực tăng trưởng toàn cầu khi năm thứ tư liên tiếp diện tích cây công nghệ sinh học tăng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác, đạt 36,6 triệu ha, tăng 21% so với năm 2011.

Đáng chú ý, năm 2012, diện tích trồng cây công nghệ sinh học ở các nước đang phát triển tăng nhanh gấp 3 lần và rộng hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển (8,7 triệu ha so với 1,6 triệu ha).

Trong số 28 nước canh tác cây trồng công nghệ sinh học có 20 nước đang phát triển và 8 nước công nghiệp. Hai nước Sudan và Cuba là hai nước mới lần đầu tiên đưa cây trồng công nghệ sinh học vào canh tác trong năm 2012.

Trong giai đoạn 2013-2015 sẽ có một số cây trồng công nghệ sinh học mới; trong đó có 2 sản phẩm đã được phê chuẩn. Đó là đậu tương HT/IR mang đa tính trạng đầu tiên tại Brazil và ngô kháng hạn ở Mỹ trong năm 2013.

Theo tiến sỹ Clive James, năm 2015 được xác định là mốc chính cho việc thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ, giảm 50% số lượng người đói trên thế giới.

Việt Nam là nước đã sớm hoàn thành mục tiêu này, tương tự như một số vùng ở phía Đông Bắc của Brazil. Nếu ứng dụng công nghệ sinh học trong cây trồng thì sẽ đạt được những kết quả lớn hơn nữa.

Theo Vietnam+

Việt Nam ưu tiên nghiên cứu về công nghệ sinh học

By Anonymous →
Ngày 27/2 tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo quốc tế về công nghệ sinh học Việt Nam-Ấn Độ với sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ của hai nước Việt Nam và Ấn Độ.

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh nêu rõ, Chính phủ Việt Nam luôn coi công nghệ sinh học là một trong bốn lĩnh vực khoa học và công nghệ được ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Việt Nam đã ban hành những chính sách để đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học nhằm khai thác tối ưu, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật của đất nước, phục vụ phát triển nông lâm ngư nghiệp bền vững, bảo vệ sức khỏe của con người và môi trường sống, qua đó phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ trưởng Chu Ngọc Anh nhấn mạnh, Chính phủ Việt Nam đã xác định Ấn Độ là đối tác chiến lược trong hợp tác quốc tế về nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học và bày tỏ mong muốn, Hội thảo sẽ là diễn đàn để các nhà khoa học của hai nước trao đổi, thảo luận nhằm xác định ra các vấn đề hợp tác cùng phát triển trong tương lai.

Hội thảo nhận định, công nghệ sinh học được coi là ngành công nghệ mũi nhọn của thế kỷ 21. Các thành tựu công nghệ sinh học được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực và đem lại nguồn lợi lớn cho nhiều quốc gia trong các lĩnh vực nông nghiệp, y dược, thực phẩm, nhiên liệu mới, năng lượng sinh học sạch. Công nghệ sinh học giúp cuộc sống con người trở nên an toàn hơn, bền vững hơn…

Việt Nam và Ấn Độ có nhiều đặc điểm phát triển kinh tế dựa nhiều và nền tảng nông nghiệp, vì vậy công nghệ sinh học sẽ đóng vai trò quan trọng, là chìa khóa tạo nên những đột phá để hình thành nền “công nghiệp xanh” của cả hai quốc gia.

Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã tập trung thảo luận những vấn đề cụ thể, nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ sinh học của hai nước, trong đó tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, thực phẩm, môi trường… như công nghệ gene nhằm cải tiến sức chịu hạn, chịu mặn của cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu, nghiên cứu và phát triển công nghệ tạo ra các loại có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu ở vùng MeKong, ứng dụng của công nghệ sinh học trên vắcxin, nghiên cứu về khiếm khuyết của gene đối với ung thư và các bệnh về não, nghiên cứu phát triển công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển các loại cây dược liệu…
Hội thảo sẽ làm việc đến hết ngày 28/2.
Theo Vietnam+

Ngô có khả năng chịu hạn được giới thiệu ở Ghana để tăng cường an ninh lương thực

By Anonymous →

Blog sinh học - Một số giống ngô chịu hạn mới có năng suất cao và giá cả phải chăng đã được giới thiệu ở Ghana thông qua sự hợp tác của Viện nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (the International Institute of Tropical Agriculture), Hội đồng nghiên cứu khoa học và công nghiệp Ghana (CSIR)-Viện nghiên cứu cây trồng và Viện nghiên cứu nông nghiệp Savanna.


Các giống này được đặt tên trong ngôn ngữ địa phương Ghana để biểu thị đặc tính và tầm quan trọng của chúng như CSIR-Omankwa (giver of life), CSIR Aburohemaa (Queen mother of maize), CSIR-Abontem (extra early maize) và CSIR-Enii Pibi (father's child).

Lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng, cùng với các lượng mưa khó dự đoán trước và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu, cũng như sự tăng giá của lương thực và nhiên liệu trên thế giới càng làm trầm trọng tính dễ bị tổ thương sẵn có trong các cộng đồng dân cư ở Ghana. Với sự phát triển của các kỹ thuật mới, tất cả các công cụ hiện có để nâng cao năng suất nông nghiệp như công nghệ sinh học xứng đáng được xem xét cẩn thận và cung cấp cho nông dân.

Xem thêm tại  http://vibeghana.com/2012/12/23/ghana-introduces-drought-tolerant-maize-to-boost-food-security/.

Chuỗi xoắn tứ ADN ở tế bào người

By Anonymous →
Các chuyên gia Đại học Cambridge (Anh) cho biết lần đầu tiên đã chứng kiến chuỗi ADN có đến 4 sợi trên thực tế.

“Phân tử của sự sống” nổi tiếng, có nhiệm vụ mang mã di truyền của con người, thường được biết dưới dạng cấu trúc xoắn.

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh được cấu trúc xoắn tứ hiện diện trong bộ gene người
Các nhà nghiên cứu đã chứng minh được cấu trúc xoắn tứ hiện diện trong bộ gene người 

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Anh cho biết cấu trúc chuỗi xoắn tứ cũng hiện diện trong tế bào của chúng ta, theo kiểu có thể liên quan đến ung thư, theo báo cáo trên chuyên san Nature Chemistry.

Họ cho rằng việc kiểm soát các cấu trúc này, được gọi là G-quadruplex, có thể mở ra những phương pháp mới giúp chống bệnh ung thư.

“Sự tồn tại của các cấu trúc này có thể xảy ra khi một tế bào chứa gene di truyền cụ thể nào đó, hoặc lâm vào tình trạng rối loạn chức năng”, theo BBC dẫn lời Giáo sư Shankar Balasubramanian.

Dù cần phải chứng minh sự liên quan giữa chuỗi xoắn tứ ADN với khả năng ung thư, nhưng nếu có, các chuyên gia cho rằng có thể thử nghiệm việc dùng các phân tử nhân tạo tấn công đoạn gene “bất thường” này, với hy vọng dẫn đến một liệu pháp chữa ung thư hiệu quả.
Theo Thanh Niên

Cây biến đổi gene phát triển không ngừng

By Anonymous →
Trong một nghiên cứu mang tính đột phá, các nhà khoa học ở Đức đã biến đổi gene, tạo ra những cây thuốc lá phát triển không ngừng.

Theo trang Investor's Business Daily, trong những điều kiện bình thường, cây thuốc lá có vòng đời tương đối ngắn ngủi. Chúng sinh trưởng trong khoảng 3 - 4 tháng, đạt chiều cao tối đa là 2 mét. Theo thời gian, các lá già của cây sẽ chuyển thành màu vàng và rụng xuống. Sau khi nở hoa, cây sẽ chết.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Sinh học phân tử và Sinh thái ứng dụng Fraunhofer (IME) ở Münster, Đức đã vô hiệu hóa được “công tắc gene” khiến cây thuốc lá dừng phát triển, nở hoa và lụi tàn. Bằng cách ức chế gen đó, các nhà khoa học đã “lừa” cây tiếp tục sinh trưởng, ngay cả các lá già cũng giữ nguyên màu xanh và khỏe mạnh.



Cây thuốc lá biến đổi gene của các nhà khoa học Đức đã sống tới 8 năm
trong khi vòng đời của mọi cây thuốc lá bình thường chỉ là 3 - 4 tháng.

“Cây thuốc lá thí nghiệm đầu tiên của chúng tôi hiện đã gần 8 năm tuổi nhưng vẫn phát triển không ngừng. Mặc dù chúng tôi thường xuyên cắt tỉa, nó đã cao tới 2,5 mét”, Dirk Prüfer, giáo sư Khoa Gene chức năng và ứng dụng thuộc Viện IME, cho biết.

Nghiên cứu về gene trên thực vật cũng tạo ra một biến thể cỏ switchgrass (giống như cỏ may ở Việt Nam) - nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất nhiên liệu sinh học - phát triển nhanh hơn và cho rễ to hơn. Thông qua việc vô hiệu hóa gene có tên gọi UPBEAT1, cỏ switchgrass không bao giờ nhận được tín hiệu chỉ thị ngưng sinh trưởng nữa. Điều này khiến các nhà khoa học tin rằng họ có thể sử dụng cây biến đổi gene để tạo ra vụ mùa cây nguyên liệu phục vụ ngành sản xuất nhiên liệu sinh học bội thu hơn.

Trong một nghiên cứu khác đối với cây thuốc lá, các nhà khoa học đã biến đổi gen để giúp chúng có khả năng phát sáng trong bóng tối. Bằng cách cấy thêm một gen từ vi khuẩn phát quang sinh học ở biển, các nhà nghiên cứu tại công ty BioGlow đã phát triển một cây thuốc lá sở hữu những chiếc lá xanh phát sáng yếu ớt.

Nhóm nghiên cứu thuộc Viện IME hy vọng sẽ sử dụng kỹ thuật biến đổi gene của họ để tạo ra các giống cây lương thực lớn hơn và sống lâu hơn. Họ hiện đang bắt tay với một công ty của Nhật để cho ra đời một loại cây cà chua sở hữu khả năng sinh trưởng đặc biệt như cây thuốc lá khổng lồ của họ.
Theo Vietnamnet