Browsing "Older Posts"

Browsing Category "5.Thi KTC"

Các lỗi dễ mắc và làm mất điểm Văn

By Anonymous →
Dân trí) - Qua nhiều năm dạy môn Ngữ văn, thầy Trần Quang Đại - giáo viên Trường PTTH Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh) không khỏi buồn lòng trước thực trạng thí sinh thường gặp những sai lầm "chết người" trong các bài thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH.

Trước thềm các kỳ thi năm nay, thầy Trần Quang Đại đã dành thời gian tổng kết cho các bạn thí sinh những sai lầm trên, với hy vọng giúp các bạn rút kinh nghiệm, làm bài tốt đạt được kết quả tốt nhất trong bài làm của mình.

Dưới đây là nội dung 7 sai lầm được thầy Đại vạch ra:

1. Kể lại cốt truyện, "diễn nôm" bài thơ


Đối với những tác phẩm văn xuôi thường có yêu cầu phân tích nhân vật hay một vấn đề nào đó, thế là các sĩ tử tha hồ kể lể. Mặc dù yêu cầu của đề là cảm thụ, đánh giá chứ không phải là kể lại câu chuyện. Nhiều bài thi rất dài, nhưng không có ý, mà chủ yếu là thí sinh khoe trí nhớ của mình, kể lại chuyện, thậm chí còn thêm thắt, chẳng khác gì "tra tấn" giám khảo.

Đề yêu cầu phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn "Chí Phèo" thì thí sinh hầu như từ đầu đến cuối bài vanh vách kể lại cốt truyện, thậm chí còn trổ tài học thuộc trích luôn một vài câu nguyên văn mà chẳng có ý nghĩa gì. Cũng vậy, đề yêu cầu phân tích tình huống truyện của "Vợ nhặt" thì thí sinh nhẩn nha kể lại luôn câu chuyện.

Trí nhớ tốt là đáng ghi nhận, song yêu cầu của người ra đề là muốn kiểm tra xem thí sinh hiểu câu chuyện như thế nào, trình bày rõ ràng về một vấn đề cụ thể từ câu chuyện ấy, chứ không phải là kể lại câu chuyện một cách chán ngắt. Các chi tiết cần được dẫn ra một cách thông minh, để làm sáng tỏ luận điểm.

Đối với tác phẩm thơ thì không ít thí sinh sa vào "diễn nôm" lại ý nghĩa của những câu thơ. Tuy cần phải cắt nghĩa, giảng giải để hiểu rõ thêm, để thấy được những đặc sắc riêng của câu thơ, bài thơ, nhưng không có nghĩa là thí sinh chỉ việc diễn nôm lại ý nghĩa bài thơ. Câu "Câu thơ này cho thấy, đoạn thơ này nói lên, bài thơ này nghĩa là...." đã trở thành "công thức" trong bài làm của không ít sĩ tử. Bài thơ vốn hay, qua tài "chế biến" của "sĩ tử" bỗng trở nên nôm na, sống sượng.

2. Vận dụng thao tác so sánh bất hợp lý

Nhiều thí sinh khi làm bài đã vận dụng thao tác so sánh. Đây là phương pháp sẽ đạt hiệu quả cao nếu như biết xử lí phù hợp. So sánh khiến cho vấn đề được mở rộng, thú vị hơn, chứng tỏ người viết có kiến thức, tư duy. Ví dụ khi phân tích về bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng thì so sánh, liên hệ với bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu, hai bài thơ cùng viết về những chiến sĩ Vệ quốc thời kì đầu của kháng chiến chống Pháp. Hoặc có thể so sánh nhân vật Chí Phèo với các nhân vật chị Dậu, lão Hạc...


Tuy nhiên, không ít thí sinh trong khi so sánh đã rơi vào tình trạng "việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng", nghĩa là sa đà vào phân tích nội dung liên hệ, mở rộng, mà lơ là phần nội dung chính của bài làm. Hậu quả là bài tuy có vẻ bay bổng, "uyên bác", song vì vấn đề chính chưa được trình bày đầy đủ, sâu sắc, nên kết quả vẫn không cao.

3. Gọi tên nhân vật không phù hợp

Nhiều sĩ tử vẫn hồn nhiên gọi nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là "hắn". Có bạn lại gọi nhân vật người phụ nữ "vợ nhặt" trong truyện "Vợ nhặt" của Kim Lân hay nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao là "thị". Các bạn tưởng đúng, vì chính tác giả cũng viết như thế. Song chỉ nhà văn có thẩm quyền gọi tên nhân vật như vậy, xuất phát từ phong cách hài hước, và có ý đồ nghệ thuật riêng. Còn nếu sĩ tử cũng gọi như vậy, thì vô hình trung đã mắc lỗi thiếu lịch sự; hoá ra sĩ tử coi thường nhân vật? Nên gọi một cách lịch sự, khách quan là nhân vật, hay người phụ nữ, người đàn bà, hoặc chỉ gọi tên nhân vật (Chí Phèo)...


Đồng thời, một số sĩ tử nhầm lẫn giữa nhà thơ với nhân vật trữ tình nên viết "Về với nhân dân, Chế Lan Viên vô cùng hạnh phúc, xúc động" (cảm nhận về bài thơ "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên), "Hàn Mặc Tử ngỡ ngàng trước cái đẹp của Vĩ Dạ"... Đó là cách nói không chính xác, không thể gọi tên tác giả, mà phải nói là "nhân vật trữ tình".


Cách gọi tên các nhân vật trong tác phẩm đòi hỏi sự tinh tế, lịch lãm của người đọc, mà các giáo viên cần hướng dẫn thường xuyên trong các bài giảng. Do khuôn khổ bài viết nên không thể nói hết được, nói chung nên chú ý nguyên tắc khách quan, có văn hoá.


4. Thích giáo huấn, sướt mướt


Kết thúc bài phân tích về "Rừng xà nu", một thí sinh đã "tích hợp" luôn một bài học về lòng yêu nước, lí tưởng của thanh niên ngày nay. Một thí sinh sau phần nêu cảm nhận về bài thơ "Sóng" của Xuân Quỳnh cũng "lên lớp" giám khảo một bài học về sự trong sáng, chung thủy của tình yêu, nhất là trong thời đại kinh tế thị trường có nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội. Đành rằng đọc xong tác phẩm, mỗi người sẽ rút ra được những kinh nghiệm, bài học riêng, song không nhất thiết phải thể hiện "lập trường tư tưởng" trong bài văn.

Không ít thí sinh lại thiên về xu hướng "sến" với các từ "Ôi, Than ôi, Biết mấy..." xuất hiện với tần suất khá cao trong bài. Khi yêu cầu bình luận về một câu danh ngôn về tình bạn, thí sinh viết "Các bạn ơi, tình bạn là thiêng liêng, cao quý lắm!". Xin thưa, bài văn nghị luận là văn bản thuộc phong cách khoa học, cần chú trọng yêu cầu chính xác, khách quan, có bằng chứng xác đáng, lôgic. Người viết (thí sinh) và người đọc (giám khảo) là bình đẳng. Vì vậy, viết "các bạn ơi", "các bạn ạ", "các bạn biết không" hay "kính thưa thầy cô"... đều không phù hợp. Và không phải là thêm vào mấy từ "Ôi, biết bao, biết mấy"... là bài văn có cảm xúc, hay hấp dẫn hơn. Giám khảo sẽ dễ dàng phân biệt cảm xúc, tình cảm thật hay là tình cảm có tính chất "hô khẩu hiệu" của thí sinh.

5. Chưa nắm được kết cấu của bài nghị luận xã hội


Từ năm 2009 trong đề thi Ngữ văn có câu nghị luận xã hội (30% số điểm). Đa số thí sinh mất nhiều điểm ở câu tưởng chừng như "dễ ăn" này, bởi vì chưa biết cấu trúc bài làm.

Bài nghị luận xã hội có hai dạng: Nghị luận (bàn bạc) về một tư tưởng, đạo lý, nghĩa là trao đổi, thảo luận về một ý kiến, một quan điểm. Ví dụ: Suy nghĩ về quan điểm "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" hay "Học thầy không tầy học bạn" hoặc "Hạnh phúc là đấu tranh"... Dạng thứ hai là nghị luận về một hiện tượng đời sống, yêu cầu người viết trình bày nhận thức, quan điểm về những hiện tượng đáng lưu ý, "có vấn đề" trong đời sống. Ví dụ suy nghĩ về hiện tượng học sinh nữ đánh nhau; suy nghĩ về hiện tượng nhiều bạn trẻ đi học ở nước ngoài không trở về Việt Nam làm việc; về hiện tượng tệ nạn xã hội trong giới trẻ...

Dạng thứ nhất (Nghị luận về tư tưởng, đạo lý) cấu trúc bài làm ngoài phần mở bài và kết lưa65n như bình thường, phần thân bài cần luôn có ba phần:

- Giải thích

- Bàn luận: Ý nghĩa, mặt đúng, mặc tích cực; mặt tiêu cực, cần bổ sung...

- Bài học nhận thức và hành động: Nên suy nghĩ thế nào, hành động ra sao, liên hệ bản thân.

Dạng thứ hai (nghị luận về hiện tượng đời sống) cấu trúc thân bài cũng có cũng có ba phần:

- Giải thích: Nêu hiểu biết về hiện tượng,thực trạng, ý nghĩa của hiện tượng, Hiện tượng đó phản ánh điều gì, xu hướng gì.

- Bàn về nguyên nhân hiện tượng.

- Đề xuất giải pháp, phương hướng khắc phục, cách ứng xử.

Nhiều thí sinh mất điểm vì viết lan man, bài dài nhưng không có ý. Nếu trình bày đúng cấu trúc như trên, bảo đảm suy nghĩ không chệch hướng, và dễ đạt điểm cao. Bài nghị luận xã hội người viết có quyền trình bày quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm sống riêng, song để thuyết phục được người đọc thì bài văn bao giờ cũng phải đi theo một mạch tư duy sáng rõ, mạch lạc.


Xin "bật mí" thêm, muốn làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội, thí sinh nên quan tâm đến những vấn đề xã hội, những quan niệm về lí tưởng, hạnh phúc, tình yêu, tình bạn... và tạo cơ hội tranh luận, "vặn vẹo" đúng sai, giải thích nguyên nhân, nêu quan điểm, giải pháp. Lâu dần sẽ rèn luyện khả năng nhận thức vấn đề nhanh, tranh biện sắc sảo, thuyết phục.

6. Mở bài chệch choạc, mông lung

Nhiều thí sinh cảm thấy khó khăn khi viết mở bài. Nhiều bạn muốn có một mở bài ấn tượng, "hoành tráng" theo kiểu mở bài gián tiếp, nhưng tốn nhiều thời gian mà kết quả lại không như ý. Mở bài gián tiếp nếu thành công sẽ tạo ấn tượng tốt với giám khảo, và đem lại chất văn cho bài. Tuy nhiên nếu người viết non tay thì sẽ bị phản tác dụng, rơi vào lan man. Mà nếu mở bài hay nhưng thân bài dở thì cũng chẳng ích gì.

Tốt nhất là nên mở bài trực tiếp, giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, vấn đề theo kiểu "mở cửa thấy núi" (khai môn kiến sơn). Mở bài có hay đến mấy cũng chỉ được tối đa 0,5 điểm, nên cần chú trọng dồn "nội lực" vào phần thân bài.

7. "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi"

Những lỗi không đáng có này năm nào cũng có người nhắc nhở, nhưng nhiều thí sinh vẫn không chú ý khắc phục. Đó là viết chữ quá nhỏ, nét quá mờ. Nhiều thí sinh không xuống hàng, cả bài chỉ một đoạn văn, làm giám khảo "theo" đọc đứt cả hơi. Bài văn nghị luận bao gồm nhiều ý (luận điểm), mỗi ý như vậy nên tách thành một đoạn văn, vừa lôgic, vừa dễ theo dõi.

Có thí sinh khi trích dẫn câu thơ, đoạn thơ, hay câu văn lại viết một hai chữ rồi thêm dấu ba chấm, coi như giám khảo đã biết rồi, hoặc cẩu thả đến mức trích dẫn sai. Nhiều bạn lại không chừa lề, bài vừa nhìn rườm rà mà không có chỗ cho giám khảo cho điểm chi tiết. Những việc "tiết kiệm" như thế không được giám khảo hoan nghênh, và dĩ nhiên là sĩ tử sẽ thiệt thòi.

Còn nếu sĩ tử nào vẫn mắc lỗi kiểu "chưa sạch nước cản" như sai chính tả, ngữ pháp, lạc đề, chữ như gà bới... thì thi rớt là cái chắc.
----------------------------

Nguồn dantri.com V.D. ghi

Lưu ý khi thi môn Ngữ văn

By Anonymous →
TT - Tuổi Trẻ giới thiệu những “bí quyết” để giúp thí sinh ôn thi đạt hiệu quả cao nhất trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2010.


Đặc thù của môn văn là môn khoa học - nghệ thuật. Vì thế bạn cần tạo hứng thú trong việc học văn, bồi dưỡng lòng yêu mến, thật sự thoải mái khi tiếp cận. Đó là tiền đề cho việc thực hiện tốt bài thi môn ngữ văn ở bất cứ ngưỡng cửa thi cử nào. Để tránh những nhầm lẫn đáng tiếc đồng thời đạt kết quả cao khi làm bài thi môn văn, bạn lưu ý những vấn đề sau:

Trước hết, phải nắm vững những kiến thức cơ bản nhất để đáp ứng cho bài làm ở cả phần chung và phần riêng. Kiến thức đó ví như “nguyên vật liệu” cần thiết để xây dựng và hoàn thành bài văn. Tuyệt đối không xem nhẹ hay bỏ câu nào. Thông thường các bạn sợ nhất là câu tái hiện kiến thức vì phải học và ghi nhớ nhiều kiến thức. Tuy nhiên, nếu không làm được câu này thì rất có thể bài văn không đạt điểm trung bình. Sẽ không quá nặng nề nếu bạn nắm được phương pháp và cách thức làm bài.

Đối với bài văn nghị luận xã hội, ngoài việc phải thu thập thông tin, đọc nhiều để có kiến thức xã hội, bạn cần phải nhớ bố cục của từng dạng bài nghị luận (về một tư tưởng đạo lý hay một hiện tượng đời sống). Khi đọc đề, phải xác định ngay đề thuộc dạng nghị luận nào. Từ đó viết dàn ý sơ lược theo bố cục của dạng đề đó ra giấy nháp, cân nhắc kỹ để chắc chắn không lạc đề, không lộn bố cục, triển khai đúng yêu cầu rồi mới viết. Những lỗi các bạn thường mắc phải là không triển khai bài văn đúng, đủ thao tác do không lập dàn ý trước dẫn đến bài văn sơ sài, thiếu ý, bố cục lộn xộn.

Ở bài nghị luận văn học, phải thật sự hiểu và cảm được văn bản tác phẩm. Làm văn là trình bày những hiểu biết của mình về những vấn đề của tác phẩm, làm sao cho người đọc thấy được cái hay, cái đẹp và những vấn đề tư tưởng mà thông qua tác phẩm nhà văn, nhà thơ muốn đề cập. Vì thế, phải đọc kỹ văn bản văn xuôi, ghi nhớ những dẫn chứng cần thiết; thơ thì phải thuộc nằm lòng, không thuộc không thể cảm được thơ.

Học tốt môn văn không thể một sớm một chiều mà phải có quá trình và ôn luyện thường xuyên. Thời gian không còn nhiều, bạn cần xác định phương pháp học tập: Nắm vững từng vấn đề tác phẩm, hiểu được tư tưởng mà tác giả đề cập... Tuyệt đối không học thuộc lòng bài văn mẫu. Bởi lẽ "mẫu” không phải là “mẫu mực” và cũng không thể nhớ hết. Hơn nữa đề thường rất đa dạng, đòi hỏi bạn phải tư duy, phải biết lập dàn ý sao cho phù hợp.

Chỉ nên đọc văn mẫu trên tinh thần tham khảo để có thêm tư liệu, học cách triển khai, diễn đạt và làm giàu cho vốn ngôn ngữ của mình. Và chỉ đọc sau khi đã nắm kỹ nội dung kiến thức cơ bản mà mình được học, tránh sa đà, học theo sự cảm nhận của người khác.

Bài làm văn còn được coi là sản phẩm tinh thần của sự sáng tạo mà bạn là chủ thể. Văn chương luôn đòi hỏi cảm xúc nên bạn phải cố gắng “thổi hồn mình” vào bài viết. Chỉ đặt bút làm bài khi đã thật sự hiểu đề, có kế hoạch triển khai đề và biết mình phải làm gì. Một người đi đường sẽ đi đến địa điểm mình muốn rất nhanh nếu biết phương hướng và cách thức đi. Làm bài văn cũng thế.
-------------------------
LÊ THỊ CẨM HƯƠNG
(giáo viên môn văn Trường THPT Nguyễn Trãi, TP.HCM)

Thi học kỳ 1 VTS 09-10 -ĐỀ chính thức-Nâng cao

By Anonymous →
TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I – NĂM HỌC 2009-2010
MÔN: VĂN 10 –Chương trình NÂNG CAO
Thời gian: 90 phút
I. Câu hỏi (2 điểm)
1. Nêu vắn tắt đặc điểm văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX?
2. Kể tên 4 tác giả - tác phẩm tiêu biểu của văn học Trung đại Việt Nam thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo.
II. Nghị luận xã hội (3 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày quan điểm của anh (chị) về tình nghĩa thầy trò.
III. Nghị luận văn học (5 điểm)
Cảm nhận của anh (chị)về bài thơ”Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão).
-----HẾT-----

KTC đợt 1 09-10 K11 NÂNG CAO

By Anonymous →
Trường THPT Võ Thị Sáu

ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 1 – NĂM HỌC 2009- 2010
MÔN NGỮ VĂN- KHỐI 11- CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO
Thời gian làm bài: 90 phút
1.Câu hỏi giáo khoa : (1đ)
Em hãy nêu những nội dung chính trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến. Kể tên bốn tác phẩm tiêu biểu của ông.
2.Tiếng Việt: (1đ)
Hãy xác định cặp từ trái nghĩa trong câu sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của cặp từ đó:
“Thương ông Hàn Dũ chẳng may
Sớm dâng tờ biểu tối đày đi xa”
(Nguyễn Khuyến – Khóc Dương Khuê)
3.Nghị luận xã hội: (3đ)
Viết một bài văn ngắn khoảng từ 14 đến 16 câu trình bày suy nghĩ của em về vấn đề “thành” và “bại” trong cuộc sống.
4.Nghị luận văn học: (5đ)
Cảm nhận bài thơ “Tự tình” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
-----HẾT-----

KTC đợt 1 09-10 K10 Sáng

By Anonymous →
TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU
ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 1- NĂM HỌC 2009- 2010
MÔN: NGỮ VĂN 10 – KHỐI SÁNG
(Dành cho cả 02 chương trình)
THỜI GIAN: 90 PHÚT

1. Kiến thức văn học (2 điểm)
a/ Trình bày hệ thống thể loại văn học dân gian? (1 điểm)
b/ Nêu những giá trị cơ bản của văn học dân gian. (1điểm)
2. Tóm tắt tác phẩm tự sự (2 điểm)
Em hãy tóm tắt sử thi “Đam San”
3. Làm văn: (6 điểm)
Hãy kể lại “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy” theo giọng văn của bản thân.

KTC đợt 1 09-10 K10 Chiều

By Anonymous →
TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU
ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 1- NĂM HỌC 2009- 2010
MÔN: VĂN 10 – KHỐI CHIỀU
(Dành cho cả 02 chương trình)
THỜI GIAN: 90 PHÚT

1. Kiến thức văn học (2 điểm)
. a. Nêu đặt trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam.(1 điểm)
b. Hãy mô tả quá trình sáng tác tập thể của Văn học dân gian (1 điểm)
2. Tóm tắt tác phẩm tự sự (2 điểm)
Viết văn bản tóm tắt “ Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ”
3. Làm văn: (6 điểm)
Hãy kể lại cảnh đoàn tụ gia đình của Uy-lit-xơ và Pênêlốp sau hai mươi năm xa cách.
-----HẾT-----

KTC đợt 1 09-10 K11 Chuẩn

By Anonymous →
Trường THPT Võ Thị Sáu
ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 1 – NĂM HỌC 2009 – 2010
MÔN: VĂN 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN Thời gian: 90 phút


1. Kiến thức văn học: 1 điểm
Trình bày những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Khuyến.
2. Tiếng Việt: 1 điểm
Nêu ngắn gọn những yếu tố chính về lời nói-sản phẩm riêng của cá nhân.
3.Nghị luận xã hội: (3 điểm)
Viết một bài văn ngắn (từ một đến hai trang) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần đoàn kết
4.Nghị luận văn học: (5 điểm)
Cảm nhận bài thơ “Thương Vợ” của Trần Tế Xương.
-----HẾT-----

KTC đợt 1 09-10 K12

By Anonymous →
KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 1- NĂM HỌC 2009-2010
MÔN VĂN KHỐI 12
Thời gian: 90 phút

I. Kiến thức văn học(2.0 điểm)
Trình bày hoàn cảnh và mục đích sáng tác “Tuyên ngôn độc lập ” (Hồ Chí Minh) .
II.Nghị luận văn học (3 điểm)
Anh (chị) có cảm nhận gì về những câu thơ sau trong bài thơ “TÂY TIẾN” của Quang Dũng:
“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Ào bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Trích sách giáo khoa “Ngữ văn 12”, tập 1 trang 89)
III.Nghị luận xã hội (5 điểm)
Tuổi trẻ học đường nên suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông?

-----HẾT-----

Cấu trúc đề thi học kì tại VTS

By Anonymous →
TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU

Cấu trúc ĐỀ THI HỌC KỲ NĂM HỌC 2009-2010
MÔN : NGỮ VĂN – 3 KHỐI

THỜI GIAN LÀM BÀI: 90-120 PHÚT tùy theo lịch của SGD


I.PHẦN CHUNG ( dành cho tất cả thí sinh)
Câu 1. Kiến thức văn học (2 điểm)

Câu 2: Nghị luận xã hội (3 điểm)

II.PHẦN TỰ CHỌN (Thí sinh chỉ được chọn một trong hai câu 3a hoặc 3b)
Câu 3a. Theo chương trình CHUẨN (5 điểm)

Câu 3b.Theo chương trình NÂNG CAO (5 điểm)




-----HẾT-----