Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Rừng Xànu"

Đề-Gợi ý chấm Văn Bổ túc THPT 09-10

By Anonymous →
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2010
Môn thi : NGỮ VĂN - Giáo dục thường xuyên
Câu 1. (2,0 điểm)
Nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Câu 2. (3,0 điểm)
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của nhà trường trong việc truyền thụ kiến thức văn hóa cho học sinh.

Câu 3. (5,0 điểm)
Phân tích hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2008).
-------------------
BÀI GIẢI GỢI Ý

Câu 1. - Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào, đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp.
- Địa bàn hoạt động của Tây Tiến khá rộng.
- Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn nhưng họ rất lạc quan, dũng cảm.
- Quang Dũng là đại đội trưởng trong Đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, trong tình cảm nhớ thương những đồng đội cũ, nhà thơ đã viết bài Nhớ Tây Tiến.
- Khi in lại, tác giả đổi tên thành Tây Tiến và in trong tập Mây đầu ô. Đây là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ.

Câu 2: Một số gợi ý :

- Nhà trường có một vai trò quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh. Học sinh có thể tiếp thu kiến thức từ nhiều nguồn nhưng kiến thức ở nhà trường vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu vì đó là kiến thức đã được chuẩn hóa,đạt độ chính xác cao và có định hướng.

Vai trò của ngành giáo dục nói chung và nhà trường rất quan trọng trong việc đào tạo ra nhân tài, tạo nên nguồn nguyên khí của quốc gia.

- Trong nhà trường người trực tiếp truyền thụ kiến thức là đội ngũ giáo viên. Họ đều là những người được đào tạo trong các trường Sư Phạm. Họ không những có trình độ tay nghề mà còn có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp. Do vậy họ luôn có ý thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật thông tin để nâng chất lượng giờ dạy đem đến cho học sinh những hiểu biết chuẩn mực.

- Cha ông ta từ xa xưa đã rất coi trọng vai trò của nhà trường trong việc mở mang truyền bá kiến thức. Văn Miếu Quốc Tử Giám đã được xây dựng từ những thế kỉ đầu của quốc gia phong kiến Đại Việt. Các nước tiên tiến trên thế giới sở dĩ phát triển nhanh, mạnh vì coi trọng vai trò của giáo dục, trong đó trường học chiếm vị trí hàng đầu.

- Trong thời đại thông tin hiện nay, có rất nhiều nguồn cung cấp tri thức thì vai trò truyền bá kiến thức từ nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

- Trong việc truyền thụ kiến thức văn hóa, ngoài vai trò quan trọng của người thầy, học sinh cũng cần phải có thái độ tích cực chủ động.

- Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức văn hóa, nhà trường còn có nhiệm vụ giáo dục rèn luyện học sinh về mặt phẩm chất, đạo đức để học sinh không chỉ có kiến thức mà còn có cách sống, cách ứng xử văn hóa.

- Gia đình, xã hội cũng có vai trò không kém phần quan trọng đối với việc hình thành kiến thức và nhân cách của học sinh. Do vậy, để giá trị giáo dục được bền vững cần có sự kết hợp chặt chẽ, toàn diện và hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Câu 3. Yêu cầu học sinh nắm chắc kỹ năng phân tích một mặt hình tượng của tác phẩm. Cụ thể ở đây là hình tượng cây xà nu được miêu tả mang giá trị nghệ thuật cao: giá trị hiện thực, giá trị tượng trưng và giá trị biểu tượng.

1. “Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn học thời chống Mĩ. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Khuynh hướng này đã chi phối sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn văn học này.

2. Đọc “Rừng xà nu” những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai… tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi độc giả. Nổi bật hình ảnh cây xà nu được lặp đi lặp lại gần hai mươi lần, một hình tượng đặc sắc bao trùm toàn bộ thiên truyện ngắn này. Hình tượng ấy đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi và lãng mạn cho câu chuyện về làng Xô-man bất khuất, kiên cường. Qua tác phẩm, cây xà nu, rừng xà nu đã được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết với ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời văn có cánh” trong một cảm xúc thật say mê và mãnh liệt. Cây xà nu trong truyện xuất hiện rất nhiều lần và dường như rất quen thuộc với con người nơi núi rừng Tây Nguyên, nó tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của người dân nơi đây trong cuộc chiến đấu chống Mĩ thật anh dũng của họ.

Tác phẩm “Rừng xà nu” là một bản anh hùng ca về cuộc đời anh dũng, đau thương, bất khuất của Tnú cũng như của tất cả dân làng Xô-man. Câu chuyện ấy được kể trên nền tảng chính của hình tượng cây xà nu - một hình tượng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa tượng trưng và khái quát. Những cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn sống, vừa là nhân chứng, vừa tham gia bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi vất vả, đau thương dưới tầm đạn kẻ thù. Nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn tràn đầy sức sống, vẫn vươn mình lên cường tráng vượt lên mọi thương đau. Cây xà nu là một hình ảnh mang tính chất tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của dân làng Xô-man.

Mở đầu câu chuyện là hình ảnh “cả rừng xà nu hàng vạn cây” và kết thúc vẫn là “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”. Hình ảnh ấy như một nét nhạc trầm hùng, một bản đàn dạo, là cái “phông” cho cả một câu chuyện khiến thiên truyện càng mang đậm tính sử thi và lãng mạn hơn. Rừng cây xà nu được xem như là biểu tượng cho con người Xô-man. Với hình ảnh nhân hóa, Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cây xà nu như những con người, chúng cũng có “vết thương”, biết “ham ánh sáng” và “ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”.

Cây xà nu còn là một hình ảnh so sánh với con người “ngực căng bằng cây xà nu”. Rừng xà nu năm tháng đứng dưới tầm đại bác kẻ thù, chịu đựng biết bao tàn phá, cũng như những đau thương mà dân làng phải gánh chịu trước ách kìm kẹp của giặc. “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. “Cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình nhựa ứa ra, tràn trề”… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên một hiện thực đầy đau đớn của đồng bào Tây Nguyên trước sự tàn bạo của quân thù và gợi lên lòng căm thù cũng như kết tụ một ý chí phản kháng.

Nhưng hơn hết vẫn là sức sống mãnh liệt đầy sức trẻ của rừng xà nu bạt ngàn. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắc như những mũi lê” “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”. Thế mới biết sức trẻ của cây xà nu mãnh liệt đến dường nào! Sức trẻ ấy còn mang tính tượng trưng cho thế hệ trẻ của làng Xô-man. Đó là những Mai, Dít, Tnú, Heng, những con người luôn gắn bó với cách mạng, bất khuất từ tuổi thơ, lớn lên trong lửa đạn, trưởng thành trong đau thương và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì tự do của dân tộc.

Bên cạnh đó, sức sống bất khuất kiên cường của cây xà nu còn được tạo bởi hàng vạn cây ở những đồi xà nu nối tiếp nhau tới chân trời, ở tấm ngực lớn của rừng ưỡn ra che chở cho làng. Đó là những cây xà nu thật vững chắc, xanh tốt đã vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”, một cây ngã xuống tức thì bốn năm cây con lại mọc lên cứ thế trở thành cả một rừng cây xà nu nối tiếp đến chân trời.

Những cây xà nu, rừng xà nu ấy là hình ảnh của dân làng Xô-man kiên cường chống giặc, bất chấp mọi hi sinh, một lòng đi theo Đảng, đi theo kháng chiến hết thế hệ này đến thế hệ khác. Đó là những cụ Mết, anh Xút, Tnú, Mai, Dít, anh Brôi… mà tiêu biểu là hình ảnh cụ Mết. Nhà văn đã ví cụ “như một cây xà nu lớn”. Hơn ai hết, cụ là người hiểu rất rõ sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng xà nu cũng như của dân làng Xô-man. Chính cụ Mết đã nói với Tnú “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “cây mẹ chết cây con lại mọc lên”.

Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng dũng cảm và ý chí quật khởi của dân làng Xô-man. “Đứng trên đồi cây xà nu gần con nước lớn, cả vùng Xô-man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuẩn bị dao, mác, vụ, rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “Không có gì đượm bằng nhựa cây xà nu… Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… máu anh mặn chát ở đầu lưỡi…”.

Giọng điệu sử thi của “Rừng xà nu” bắt đầu từ câu chuyện kể của cụ Mết dưới ánh lửa xà nu, một câu chuyện phảng phất phong vị anh hùng ca. Và cây xà nu không chỉ gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng mà còn gắn bó với mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống văn hóa của người Xô-man, của các dân tộc Tây Nguyên.

Sở dĩ hình tượng cây xà nu được tác giả xây dựng có giá trị nghệ thuật cao vì tác giả đã có nghệ thuật miêu tả “cây xà nu” :

- Nhà văn đã khéo léo dùng nghệ thuật liên tưởng để miêu tả sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng của cây xà nu. Đặc biệt tác giả đã chọn lựa và sử dụng từ ngữ đắc địa để miêu tả cây xà nu như những vũ khí sắc nhọn: ở đầu truyện là “những cây xà nu con hình nhọn mũi tên lao thẳng lên”, “ở cuối truyện là những cây mới nhú khỏi mặt đất nhọn hoắt như những mũi lê”.

- Thủ pháp nhân hóa cây xà nu cổ thụ và những cây con.
- Nghệ thuật lặp đồng nghĩa: “đồi xà nu” - “rừng xà nu” - “hàng vạn cây”.
- Thưởng thức cả đoạn văn, chúng ta thấy phong cảnh ở đây như được nhà văn khắc chạm, tạo thành hình, thành khối, có màu sắc, có mùi vị.
- Cây xà nu là một hình tượng quán xuyến trong cả thiên truyện, được nhà văn nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

- Chọn hình tượng “cây xà nu”, nhà văn Nguyễn Trung Thành muốn xây dựng một biểu tượng nghệ thuật về con người - dân làng Tây Nguyên. Hình tượng cây xà nu được lặp đi lặp lại như một mô típ chủ đạo để thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm: tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của các buôn làng Tây Nguyên nói riêng và của miền Nam anh hùng nói chung. Hình tượng cây xà nu mang giá trị biểu tượng cao: hình tượng cây xà nu đẹp tương ứng với những phẩm chất cao đẹp của dân làng Xôman, “cây xà nu lớn” với sức sống ngàn đời tượng trưng cho cụ Mết, “bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “cành lá sum sê” tượng trưng cho thế hệ trẻ như Tnú, Mai, Dít, bé Heng, đặc biệt là Tnú.

3. Hình tượng cây xà nu thật sự là một sáng tạo nghệ thuật đáng kể của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới những lớp ý nghĩa rất khác nhau qua cách viết vừa gợi vừa tả của tác giả. Qua hình tượng này người đọc không chỉ thấy rõ sức sống kiên cường, mãnh liệt của dân làng Xô-man, của con người Tây Nguyên nói riêng mà còn là của dân tộc Việt Nam nói chung trong những tháng năm chống Mĩ và góp phần khẳng định chân lý của dân tộc và thời đại: một dân tộc muốn bảo vệ sự sống còn, độc lập, tự do, phải cầm vũ khí đứng lên chống lại kẻ thù tàn bạo.

NGUYỄN HỮU DƯƠNG - ĐINH PHAN CẨM VÂN
(TT BD VH & LT ĐH Vĩnh Viễn)

Thi HK2-SGD TP.HCM-ĐỀ CHÍNH THỨC 2008-Văn12

By Anonymous →
MÔN NGỮ VĂN - LỚP 12 2007-2008
ĐỀ - HƯỚNG DẪN CHẤM
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
 Đề bài gồm 3 câu: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học nước ngoài; câu 2 kiểm tra kiến thức văn học Việt Nam ; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 và 2 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt và lập luận. Chỉ những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa.Câu 3 là bài làm văn, tích hợp kiểm tra cả kiến thức tác giả, tác phẩm và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.
 Giám khảo cần nắm vững nội dung bài làm của HS để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.Tinh thần chung là sử dụng nhiều mức điểm; không yêu cầu hoàn thiện đối với các bài điểm 9-10. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
 Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.
 Chúng tôi cố gắng trình bày đáp án tương đối cụ thể để dễ thống nhất khi chấm. Tuy nhiên, điều đó chỉ thực hiện tốt đối với các câu hỏi kiểm tra kiến thức văn học sử. Đối với bài làm văn, giám kháo cần căn cứ vào kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận và sự nắm vững tác giả, tác phẩm để cân nhắc mức điểm.
II. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
Câu 1: (2 điểm) :
Tóm tắt và ý nghĩa tác phẩm "Một con người ra đời" của M.Gorki
1/ Yêu cầu nội dung: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:
 Tóm tắt: (1 điểm)
 Năm 1892, có một đòan người ở miền Nam nước Nga đói nghèo, thất nghiệp kéo nhau đi kiếm sống.
 Trong đòan có một phụ nữ trẻ mang thai sắp đến ngày sinh.
 Nhờ sự giúp đỡ tận tình của một chàng trai tốt bụng, chị sinh được một bé trai khỏe mạnh.
 Sự ra đời của đứa bé khiến người mẹ và chàng trai cảm thấy vui sướng, tự hào. Họ như được tiếp thêm sức sống để vượt qua hòan cảnh cơ cực thiếu thốn
 Chủ đề : (1 điểm)
 Tác phẩm thể hiện sự trân trọng, cảm phục vô bờ bến của nhà văn đối với con người ;
 Tác phẩm ca ngợi con người, khẳng định mỗi con người là một cá nhân, một tiểu vũ trụ đòi hỏi được trân trọng.
2/ Cho điểm :
 Cho điểm tối đa đối với bài làm diễn đạt ý rõ ràng, mạch lạc, không sai chính tả, ngữ pháp.
 Giáo viên căn cứ vào đáp án để đánh giá các mức điểm khác cho phù hợp.
(Ví dụ : sai lỗi chính tả, ngữ pháp tuỳ mức độ trừ từ 0.25 điểm đến 0.5 điểm…)

2. Câu 2 : (2 điểm)
Đặc điểm phong cách thơ Tố Hữu
1/ Yêu cầu nội dung: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:
 Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng và cuộc sống cách mạng.
 Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đầu tiên là cái tôi – chiến sĩ, về sau trở thành cái tôi nhân danh dân tộc, nhân danh cách mạng.
 Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng dễ nhận ra, đó là giọng tâm tình ngọt ngào tha thiết, là tiếng nói của tình thương mến.
 Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc từ nội dung đến nghệ thuật biểu hiện (thể thơ, nhạc điệu…)
2/ Cho điểm : Giáo viên căn cứ vào đáp án và đánh giá các mức điểm như câu 1.

Câu 3 :(6 điểm)
Chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam qua "Rừng Xànu" của NTT và "Mảnh trăng cuối rừng" của NMC
1. Yêu cầu về kĩ năng :
 Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học, kiểu bài phân tích một vấn đề văn học ; có khả năng khái quát một vấn đề văn học sử trên cơ sở bám sát và nắm vững các tác phẩm ; sau khi nêu lên đặc điểm chung, phân tích một vài khía cạnh của tác phẩm để làm rõ đặc điểm ấy, không phân tích toàn bộ giá trị nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm.
 Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
2. Yêu cầu về nội dung :
 Bài làm cần có các nội dung chính sau :
 Giải thích, nêu những biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng tạo nên vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước :
 Tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng, ý thức được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đất nước, đặt lợi ích cách mạng lên trên lợi ích cá nhân...
 Căm thù giặc sâu sắc, có tinh thần bất khuất, hành động dũng cảm, sẵn sàng hi sinh trong chiến đấu…
 Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được thể hiện trong từng tác phẩm :
 “Rừng xà nu” là bản anh hùng ca về cuộc đấu tranh chống Mĩ. Tác phẩm ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu quật cường của người dân Tây Nguyên, các thế hệ dân làng Xô Man (cụ Mết, Tnú, cô Dít, bé Heng…). Trong đó, Tnú là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người Tây Nguyên ; là một cây xà nu trưởng thành bất khuất : tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng ; căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm chống giặc bảo vệ quê hương và những người thân yêu ; gan góc, dũng cảm…
 “Mảnh trăng cuối rừng” ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam – những người bình dị mang những phẩm chất chung của thời đại (Nguyệt, Lãm). Họ sống có lý tưởng, sẵn sàng hy sinh, hiến dâng tuổi thanh xuân cho cuộc đấu tranh của dân tộc. Trong đó Nguyệt là hình ảnh lí tưởng, đẹp từ ngoại hình đến tính cách : tinh thần trách nhiệm cao, dũng cảm trước bom đạn kẻ thù, có tình yêu trong sáng thuỷ chung…
 Đánh giá chung : “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu thể hiện đậm nét chủ nghĩa anh hùng trong thời đại cách mạng, khắc họa chân dung những con người bình dị trong đời thường nhưng có bản lĩnh và nhân cách đẹp. Đó là nét đẹp và là phẩm chất chung của con người Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước của dân tộc.
• Lưu ý : Học sinh có thể phân tích theo từng ý hoặc phân tích từng tác phẩm, nhưng phải có phần đánh giá chung nêu bật lên đặc điểm chung của giai đoạn văn học theo yêu cầu của đề.
 Biểu điểm :
 Điểm 5 – 6 : Đáp ứng tốt các yêu cầu trên ; kĩ năng phân tích tốt, biết chọn chi tiết phù hợp ; không mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp (1-2 lỗi).
 Điểm 3 – 4 : Đáp ứng từ ½ đến 2/3 yêu cầu trên ; hiểu đề nhưng vận dụng kĩ năng chưa tốt ; có thể mắc vài lỗi chính tả, ngữ pháp (3-4 lỗi) .
 Điểm 1 – 2 : Không nắm được các đặc điểm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng ; không nắm tác phẩm, không có dẫn chứng trực tiếp ; bài làm sơ sài, thiếu nhiều ý ; mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
 Điểm 00 : Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.
• Giáo viên căn cứ vào đáp án để đánh giá các mức điểm khác cho phù hợp.

Thi TN THPT 2007

By Anonymous →
CHƯƠNG TRÌNH PHÂN BAN THÍ ĐIỂM

ĐỀ- ĐÁP ÁN PHÂN BAN 2007


I. phần chung cho thí sinh cả hai ban (5,0 điểm)

Câu 1 (2 điểm)
Anh, chị hãy tóm tắt ngắn gọn truyện Thuốc của Lỗ Tấn.

a. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau,
nh−ng phải nêu đ−ợc những tình tiết chính sau:
- Sáng sớm mùa thu, lão Hoa Thuyên, chủ quán trà đến pháp tr−ờng mua
thuốc chữa bệnh lao cho con. Thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu của ng−ời chiến
sĩ cách mạng Hạ Du.
- Bà Hoa cho con ăn bánh với niềm tin chắc chắn con sẽ khỏi bệnh.
- Những ng−ời khách trong quán trà bàn về thuốc, về Hạ Du và cho anh là
điên.
- Buổi sáng thanh minh năm sau, bà Hoa và bà mẹ Hạ Du cùng đến thăm
mộ con, họ đồng cảm và ngạc nhiên khi thấy vòng hoa trên mộ của Hạ Du.
b. Cách cho điểm:
- Điểm 2: đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn mắc một vài lỗi
nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 1: Trình bày đ−ợc nửa số ý của các yêu cầu trên, còn mắc một số
lỗi diễn đạt, câu chữ.
- Điểm 0: Không trình bày đ−ợc ý nào của yêu cầu trên.

Câu 2 (3 điểm)
Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

a. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về truyện ngắn Vợ nhặt của
nhà văn Kim Lân, thí sinh cần nêu đ−ợc những ý cơ bản sau:
- Nhan đề Vợ nhặt gợi lên tình huống truyện độc đáo.
- Nhan đề Vợ nhặt thể hiện tình cảm nhân đạo của tác giả tr−ớc thân phận
rẻ rúng của con ng−ời trong nạn đói.
b. Cách cho điểm:
- Điểm 3: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn mắc một vài lỗi nhỏ
về diễn đạt.
- Điểm 2: Trình bày đ−ợc nửa số ý của các yêu cầu trên, còn mắc một số
lỗi diễn đạt, câu chữ.
- Điểm 1: Trình bày thiếu ý hoặc còn sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt, câu
chữ.
- Điểm 0: Không trình bày đ−ợc ý nào của yêu cầu trên.

II.. phần dành cho thí sinh từng ban (5,0 điểm)

A. Thí sinh Ban KHTN chọn câu 3a hoặc 3b
Câu 3a (5 điểm)
Cảm nhận của anh, chị về cảnh thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn thơ sau trong bài
thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao s−ơng lấp đoàn quân mỏi
M−ờng Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn th−ớc lên cao, ngàn th−ớc xuống
Nhà ai Pha Luông m−a xa khơi.

(Theo Ngữ văn 12- tập một, Sách giáo khoa thí điểm
Ban KHTN, Bộ 2, tr.80, NXB Giáo dục, 2005).

a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận, vận dụng khả năng đọc
hiểu để phát biểu cảm nhận về đoạn thơ trữ tình. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ
ràng, diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về bài thơ Tây Tiến của
Quang Dũng, những đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ, thí sinh cần trình bày đ−ợc
những cảm xúc, ấn t−ợng riêng của mình về thiên nhiên Tây Bắc:
- Cảnh thiên nhiên hiểm trở, dữ dội.
- Cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng.
- Trên nền cảnh ấy là hình ảnh ng−ời lính Tây Tiến oai hùng, trẻ trung,
tinh nghịch.
c. Cách cho điểm:
- Điểm 5: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn một vài lỗi nhỏ về
diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày đ−ợc khoảng nửa số ý của yêu cầu về kiến thức, còn
mắc một số lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 1: Trình bày thiếu ý hoặc còn sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ
pháp, chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.

Câu 3b (5 điểm)
Cảm nhận của anh, chị về nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong
gia đình của Nguyễn Thi.

a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận, vận dụng khả năng đọc
hiểu để phân tích nhân vật trong truyện ngắn. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng,
diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở nắm vững tác phẩm Những đứa con trong
gia đình và nghệ thuật xây dựng nhân vật, thí sinh có thể trình bày những tình
cảm, suy nghĩ của mình theo các cách khác nhau nh−ng cần nêu đ−ợc những nội
dung cơ bản sau:
- Nhân vật Việt: xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng,
chịu nhiều mất mát đau th−ơng; có lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm đi bộ
đội, chiến đấu dũng cảm; giàu tình cảm đối với ng−ời thân trong gia đình, đồng
đội; Việt cũng rất hồn nhiên.
- Từ đánh giá về nhân vật Việt, biết khái quát thành vẻ đẹp tâm hồn ng−ời
nông dân Nam bộ: giàu lòng yêu th−ơng, có truyền thống yêu n−ớc, căm thù
giặc, thuỷ chung son sắt với quê h−ơng, cách mạng.
c. Cách cho điểm:
- Điểm 5: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn một vài lỗi nhỏ về
diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày đ−ợc khoảng nửa số ý của yêu cầu về kiến thức, còn
mắc một số lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 1: Trình bày thiếu ý hoặc còn sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ
pháp, chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.


B. Thí sinh Ban KHXH&NV chọn câu 4a hoặc 4b
Câu 4a (5 điểm)
Anh, chị hãy phân tích cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong đoạn
thơ sau:
Sáng mát trong nh− sáng năm x−a
Gió thổi mùa thu h−ơng cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Ng−ời ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau l−ng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói c−ời thiết tha.

(Trích Đất n−ớc- Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12- tập một,

a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận, vận dụng khả năng đọc
hiểu để phát biểu cảm nhận về đoạn thơ trữ tình. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ
ràng, diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về bài thơ Đất n−ớc của
Nguyễn Đình Thi, những đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ, thí sinh có thể triển
khai vấn đề theo những h−ớng khác nhau, nh−ng cần nêu đ−ợc những nội dung
cơ bản sau:
- Nỗi nhớ thiết tha về mùa thu Hà Nội tr−ớc Cách mạng (đẹp, buồn, vắng)
cùng nỗi niềm của ng−ời ra đi.
- Niềm vui tr−ớc mùa thu hiện tại nơi chiến khu Việt Bắc t−ơi mới, rộn
ràng, cũng là niềm vui chiến thắng.
- Khái quát: Sự vận động cảm xúc của nhà thơ gắn liền với những chặng
đ−ờng lịch sử của đất n−ớc. Cảnh sắc thiên nhiên luôn hoà đồng với tâm trạng
của nhân vật trữ tình. 4
c. Cách cho điểm:
- Điểm 5: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn một vài lỗi nhỏ về
diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày đ−ợc khoảng nửa số ý của yêu cầu về kiến thức, còn
mắc một số lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 1: Trình bày thiếu ý hoặc còn sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ
pháp, chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.


Câu 4b (5 điểm)
Anh, chị hãy phân tích hình ảnh con ng−ời Tây nguyên trong truyện ngắn
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận, vận dụng khả năng đọc
hiểu để phân tích nhân vật trong truyện ngắn. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng,
diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở những hiểu biết về tác phẩm Rừng xà nu,
thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều h−ớng khác nhau, nh−ng cần nêu
đ−ợc những nội dung cơ bản sau:
- Phân tích các nhân vật tiêu biểu cho những thế hệ con ng−ời Tây
Nguyên: cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng.
- Khái quát chung: đặc điểm của con ng−ời Tây Nguyên yêu n−ớc, căm
thù giặc, đoàn kết đấu tranh, kiên c−ờng bất khuất, giàu yêu th−ơng; nghệ thuật
xây dựng nhân vật điển hình, đậm chất sử thi.
c. Cách cho điểm:
- Điểm 5: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, có thể còn một vài lỗi nhỏ về
diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày đ−ợc khoảng nửa số ý của yêu cầu về kiến thức, còn
mắc một số lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 1: Trình bày thiếu ý hoặc còn sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt, ngữ
pháp, chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.