Browsing "Older Posts"

Browsing Category "9.Thi TS lớp 10"

Đề thi môn ngữ văn vào lớp 10 chuyên THPT Hà Nội 2012

By Anonymous →
Câu 1 (4,0 điểm)

Một chàng trai đứng giữa thị trấn và tuyên bố trái tim mình đẹp nhất vì nó chẳng có tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông cho rằng đó là trái tim đẹp nhất. Một cụ già xuất hiện và nói rằng trái tim mình đẹp hơn. Chàng trai và mọi người ngắm trái tim đang đập mạnh mẽ, đầy sẹo lởm chởm, rãnh khuyết,…Anh khẳng định trái tim mình hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá nhiều vết cắt. Cụ già nói:

- Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người tôi yêu…Tôi lấy một phần trái tim mình trao cho họ, thường họ cũng trao một phần tim của họ để tôi lắp vào. Nhưng những phần tim chẳng hoàn toàn giống nhau: cha mẹ trao cho tôi phần lớn hơn tôi trao cho họ, ngược lại với phần tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến. Thỉnh thoảng tôi trao phần tim của mình nhưng không nhận được gì nên tim có vết khuyết. Dù đau đớn nhưng tôi luôn hy vọng ngày nào đó những rãnh khuyết sẽ được bù đắp…

Những giọt nước mắt lăn dài trên má, chàng trai bước tới, lấy một phần trái tim mình trao cho cụ. Cụ cũng lấy một phần trái tim đầy vết sẹo trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp, tạo nên những đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết…

(Phỏng theo Quà tặng cuộc sống, báo Tuổi Trẻ - NXB Trẻ, 2004)

Câu 2 (6,0 điểm)

Trong tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng”. Giải thích ngắn gọn nhận định trên và làm sáng rõ tư tưởng “náu mình, yên lặng” trong bài thơ Sang thu (Hữu Thỉnh).

Đáp án chính thức 3 môn TS 10 2012 tại HCM

By Anonymous →

Đáp án 3 môn tuyển sinh lớp 10 TP.HCM
* Đề mở, đáp án cũng mở
TTO - Sáng 26-6, Sở GD-ĐT TP.HCM đã công bố đáp án 3 môn tuyển sinh vào lớp 10 (toán, ngữ văn và tiếng Anh) năm học 2012-2013. Đáp án được quan tâm nhất là môn ngữ văn vì đề thi thuộc dạng "mở hết cỡ".
Thí sinh tranh thủ ôn bài trước khi vào phòng thi môn văn tại HĐT Trường THPT Nguyễn Thị Diệu, Q.3 - Ảnh: NHƯ HÙNG
Ngay sau giờ thi môn ngữ văn, giới chuyên môn đã bày tỏ hai luồng ý kiến trái ngược nhau: cảm thấy thú vị và đánh giá cao đề thi, cho rằng đề thi mở sẽ có tác động tích cực đến việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông. Bên cạnh đó cũng có ý kiến lo ngại đề thi mở đáp án có mở không? Đề thi cho thí sinh tự tìm luận điểm để bàn luận, cho thí sinh tự chọn hai khổ thơ mà mình thích nhất để phân tích... liệu có khiến thí sinh lạc đề không?...
Đúng như mong đợi của dư luận, đáp án môn ngữ văn năm nay cũng thuộc dạng "mở hết cỡ". Theo đó, câu 1 và 2 là hai câu chủ yếu yêu cầu thí sinh tái hiện kiến thức nhưng đáp án cũng lưu ý các giám khảo: "Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, diễn đạt rõ ràng, đủ ý thì đạt điểm tối đa".
Câu số 3 được các giáo viên và học sinh tranh luận nhiều nhất (vì mỗi học sinh rút ra một luận điểm khác nhau) thì đáp án ghi rõ là "hiện tượng vô cảm, ích kỷ" nhưng cũng lưu ý giám khảo: "Nếu thí sinh có kỹ năng làm bài tốt nhưng chỉ đi sâu bàn luận một vài khía cạnh và có suy nghĩ riêng, hợp lý thì vẫn đạt điểm tối đa".
Đây là một tín hiệu đáng mừng cho cả thí sinh và giáo viên.
HOÀNG HƯƠNG

Nhận định đề Văn TS 10 2012 tại TP HCM

By Anonymous →

Tuyển sinh lớp 10 tại TP.HCM:
Bất ngờ với đề thi văn
TT - “Đề thi môn văn năm nay là một bất ngờ lớn đối với cả giáo viên và học sinh” - cô Ngô Thị Thu Hà, giáo viên môn ngữ văn Trường THCS Nguyễn Gia Thiều, quận Tân Bình, nhận định. Bất ngờ thứ nhất là câu hỏi về nghị luận xã hội (câu 3 trong đề thi, chiếm 3/10 điểm), mọi năm đề thi sẽ “dọn” sẵn cho thí sinh chủ đề (ví dụ: trình bày suy nghĩ về tính trung thực hoặc sự giả dối...).
Tuy nhiên, năm nay đề thi đưa ra hiện tượng và yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng ấy (nguyên văn câu số 3 như sau: “Trong loạt bài trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần bàn về Thế hệ gấu bông, có đề cập hai hiện tượng:
1. Cô bé 15 tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp, còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con ly chè!”.
2. Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng không trả lời được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 1 trang giấy thi)”).
Theo nhiều giáo viên môn ngữ văn, với đề thi như trên, thí sinh phải tự rút ra luận điểm cho mình rồi sau đó mới bàn luận. Đối với những thí sinh thiếu sự nhạy bén, tư duy thì sẽ không biết rút ra vấn đề chính. Thật vậy, sau giờ thi môn văn, chúng tôi đã nghe các thí sinh bàn tán với nhiều khía cạnh khác nhau: có thí sinh viết về sự vô cảm trong giới trẻ ngày nay, thí sinh khác lại viết về sự vô ơn, bất hiếu với cha mẹ, thậm chí có thí sinh cho biết làm cả hai chủ đề cùng lúc. Mặc dù vậy, theo cô Phùng Thị Thanh Lài - giáo viên Trường phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia TP.HCM: “Tôi cảm thấy rất vui mừng khi đọc đề thi. Mừng vì đề thi không chỉ đòi hỏi học sinh phải biết kiến thức giáo khoa mà phải cọ xát với thực tế. Câu 3 là câu hướng học trò đến một hiện tượng xã hội phổ biến trong giới trẻ hiện nay: đó là sự vô cảm. Đây là một câu chuyện từ thực tế, rất thời sự nhưng cũng rất gần gũi với các em học sinh. Từ bài thi, người lớn đã định hướng lại cho giới trẻ về lối sống”.
Câu 4 của đề thi môn văn (chiếm 5/10 điểm) cũng tạo được sự chú ý của nhiều thí sinh vì “thuộc dạng đề mở hết cỡ. Khi cầm đề thi, câu đầu tiên em đọc là câu 4 vì đây là câu nặng ký nhất trong đề thi. Có lẽ không phải em mà các học sinh ai cũng thích đề mở dạng như thế này” - Phương Nam, học sinh Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, quận Gò Vấp, tâm sự.
Hôm nay học sinh sẽ thi môn toán vào buổi sáng. Học sinh dự thi vào các lớp chuyên sẽ thi môn chuyên vào buổi chiều. Tuổi Trẻ Online sẽ cập nhật bài giải sau các buổi thi tại địa chỉ: tuoitre.vn.
HOÀNG HƯƠNG

Nhận định đề thi Văn TS 10 2012 tại HCM

By Anonymous →

Thi tuyển lớp 10 tại TPHCM: Đề phân loại được thí sinh

Thứ Năm, 21/06/2012 22:06

Đề văn được nhiều giáo viên đánh giá là hay, phù hợp với đề thi tuyển sinh nhưng khó có điểm cao. Đề thi môn tiếng Anh được cho là khó


Thí sinh thi vào lớp 10 của TPHCM sau buổi thi môn văn sáng 21-6. Ảnh: Tấn Thạnh
Hôm qua, 21-6, hơn 50.600 thí sinh đã bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT do Sở GD-ĐT TPHCM tổ chức. Nhiều thí sinh cho biết môn ngữ văn và ngoại ngữ khó đạt được điểm cao.
Thói vô cảm vào đề thi
Sự thờ ơ và vô cảm - hiện tượng được cho là khá phổ biến - đã được Sở GD-ĐT TPHCM đưa vào đề thi môn ngữ văn. Câu hỏi dạng nghị luận xã hội được nhiều thí sinh cho là thú vị vì nó thuộc về vấn đề đạo đức của một bộ phận giới trẻ.
Thí sinh Phương Anh, học sinh Trường THCS Huỳnh Khương Ninh (quận 1), cho biết: “Văn nghị luận xã hội là dạng đề mở để thí sinh được nói lên suy nghĩ. Thật bất ngờ khi đề tuyển sinh lớp 10 đề cập hành động thờ ơ và vô cảm. Thờ ơ và vô cảm cần phê phán nhưng trong cuộc sống hằng ngày, bản thân em cũng ít nghĩ đến. Qua đề thi này, em cũng như các bạn có dịp để suy nghĩ và nói lên quan điểm của mình”. Còn thí sinh Thủy Trúc, học sinh Trường THCS Minh Đức (quận 1),  nói qua đề thi này em có dịp chiêm nghiệm bản thân để có hiếu hơn, có trách nhiệm với cha mẹ hơn.
Thí sinh Thanh Vũ, học sinh Trường THCS Minh Đức, cùng một số thí sinh khác cho biết đề thi môn ngữ văn yêu cầu thí sinh hiểu bài chứ không yêu cầu thuộc bài. Tuy nhiên, sẽ khó có điểm cao do câu 5 điểm yêu cầu thí sinh chọn khổ thơ nào trong chương trình văn học hiện đại để phân tích là vấn đề khó vì phạm vi lựa chọn để làm bài khá rộng. Theo thí sinh Thanh Vũ, nội dung câu hỏi này trùng với một câu trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2012-2013 của Trường Phổ thông Năng khiếu (ĐH Quốc gia TPHCM).
Hay nhưng khó có điểm cao
Nhiều giáo viên cùng chung nhận định rằng đề thi môn ngữ văn tuyển sinh lớp 10 THPT ở TPHCM hay, nhiều câu thuộc dạng mở và đặc biệt đề có tính phân loại cao phù hợp với đề thi tuyển sinh.
Giáo viên Nguyễn Hữu Dương, Trung tâm Luyện thi ĐH và Bồi dưỡng Văn hóa Vĩnh Viễn, cho rằng nội dung đề thi gắn với những kiến thức cơ bản của chương trình lớp 9. Độ khó của đề tương đối cao, có tính phân loại học sinh và phù hợp với yêu cầu tuyển sinh.
 Ở câu nghị luận xã hội, theo ông Dương, vấn đề được nêu tương đối phức tạp. “Trong loạt bài trên Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật bàn về thế hệ gấu bông, có đề cập hai hiện tượng: 1. Cô bé 15 tuổi được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quệt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp, còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con ly chè!”.  2. Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng không trả lời được”.
Từ hai câu chuyện được dẫn trong đề bài, ông Dương nhận định thí sinh có thể có những nhận thức khác nhau về hành động thờ ơ và vô cảm của những nhân vật được nêu. Từ đó, có thể hình dung một cách khác nhau về ý nghĩa của hai hiện tượng được nêu. Đề mở, nội dung khá thoáng, dễ nghị luận nhưng cũng dễ lạc đề. Đây có thể là một câu dễ gây tranh luận khi chấm bài. Chẳng hạn, học sinh có thể nói rằng cô bé trong hiện tượng thứ nhất tự phân công mình giữ xe để mẹ gom nhặt đồ đạc bị rơi, do đó, thản nhiên dặn “lát về mẹ nhớ mua cho con ly chè!” và như thế, đây là một hiện tượng bình thường... Trong khi cũng có những học sinh sẽ suy nghĩ theo hướng cô bé thờ ơ khi không giúp mẹ nhặt đồ đạc.
Với đề thi môn tiếng Anh, nhiều giáo viên cho rằng đề  năm nay khó hơn năm ngoái. Bà Lê Thị Thanh Xuân, giáo viên Trung tâm Luyện thi ĐH và Bồi dưỡng Văn hóa Vĩnh Viễn, nhận xét đề có phần nâng cao hơn so với năm trước về khu vực từ vựng và một số điểm ngữ pháp. Với đề thi này, học sinh lớp 9 phải có trình độ tiếng Anh từ trung bình khá trở lên mới đạt được điểm trung bình.

TS L10 2012 tại Hà Nội: Đề và gợi ý chấm

By Anonymous →

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2012 tại Hà Nội
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC

Phần I: (7 điểm)
            Nhà thơ Phạm Tiến Duật có câu thơ thật độc đáo:
                        “Không có kính không phải vì xe không có kính
                        Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
            Và trên chiếc xe ấy, người chiến sĩ lái xe đã:
                        “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
                        Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
                        Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
                        Như sa như ùa vào buồng lái.”
                                                            (Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2011)
1.      Những câu thơ vừa dẫn trích trong tác phẩm nào? Cho biết năm sáng tác của tác phẩm đó.
2.      Chỉ ra từ phủ định trong câu thơ độc đáo trên. Việc dùng liên tiếp từ phủ định ấy nhằm khẳng định điều gì và góp phần tạo nên giọng điệu nào cho bài thơ?
3.      Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu lập luận diễn dịch làm rõ cảm giác của người chiến sĩ lái xe trên chiếc xe không kính, trong đó có sử dụng câu phủ định và phép thế (gạch dưới câu phủ định và những từ ngữ dùng làm phép thế).
4.      Chép lại hai câu thơ liên tiếp sử dụng từ phủ định trong tác phẩm (được xác định ở câu hỏi 1).

Phần II (3 điểm)
1.      Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn thành công của nhà văn Nguyễn Thành Long. Em hãy giới thiệu ngắn gọn (khoảng nửa trang giấy thi) về tác phẩm này.
2.      Trong nhan đề  Lặng lẽ Sa Pa, tác giả đã sắp xếp các từ khác với trật tự thông thường như thế nào? Cách sắp xếp ấy có dụng ý gì trong việc thể hiện chủ đề truyện ngắn?
3.      Ghi lại một dẫn chứng ở một bài thơ đã học (nêu rõ tên tác phẩm) để thấy rằng cách sắp xếp đó được nhiều tác giả sử dụng trong sáng tác của mình.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Phần I :
1.  Những câu thơ trích dẫn trong đề bài thuộc tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Bài thơ được sáng tác vào năm 1969 (trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ).
2. Từ phủ định trong câu thơ : không có, khôngphải. Việc dùng liên tiếp từ phủ định khôngnhằm khẳng định tính chất đặc biệt của hình tượng những chiếc xe trong bài thơ. Trước hết, xét về nguồn gốc những chiếc xe này cũng có kính bình thường như tất cả mọi chiếc xe. Cho nên, xe không kính không phải vì xe không có kính. Tuy nhiên, do hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, xe đã trở nên bất thường : không có kính. Cái điều này góp phần nói lên sự khốc liệt của chiến tranh, lòng dũng cảm của người chiến sĩ lái xe, không biết sợ, bất chấp hoàn cảnh khốc liệt. Từ đó, nó góp phần tạo nên một giọng điệu vừa gần gũi tự nhiên, vừa ngang tàng khí phách của người chiến sĩ trong tiểu đội những chiếc xe không kính.
3.  Thí sinh có thể viết những đoạn văn cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, đó phải là những đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch với nội dung làm rõ cảm giác của người chiến sĩ lái xe trên chiếc xe không kính. Đoạn văn đó phải có sử dụng câu phủ định và phép thế. Gạch dưới câu phủ định và những từ ngữ dùng làm phép thế. Đây chỉ là một ví dụ :
      - Người chiến sĩ lái xe có rất nhiều cảm giác khi điều khiển những chiếc xe không kính.
      - Trước hết, vì xe không có kính chắn gió nên gió cứ lùa thẳng vào buồng lái.
      - Nó làm cho người lái xe có cảm giác mắt trở nên khó chịu.
      - Nhưng bên cạnh đó, lái những chiếc xe không kính lại mang tới những cảm giác thú vị.
      - Người chiến sĩ thấy giữa mình và con đường không còn sự cách ngăn.
      - Con đường vì miền Namphía trước chạy thẳng vào tim.
      - Nó nối liền trái tim của người chiến sĩ với miền Nam ruột thịt.
      - Ngoài ra, nó còn nối liền người ngồi trong xe với thiên nhiên rộng lớn ở bên ngoài.
      - Người chiến sĩ thấy ánh sao, cánh chim trên bầu trời như trở nên gần gũi.
      - Không có kính ngăn trở, chúng như sa, như ùa vào buồng lái.
      - Tâm hồn của người lính lái xe không kính lãng mạn biết bao!
4.                                 Khôngcó kính, rồi xe không có đèn
                                    Không có mui xe, thùng xe có xước,
Phần II:
1.  Câu hỏi yêu cầu thí sinh giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa trong khoảng nửa trang giấy thi. Đáp ứng câu hỏi này, thí sinh cần nêu một số những nội dung căn bản sau :
      - Giới thiệu ngắn gọn về nhà văn Nguyễn Thành Long và khẳng định Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn thành công của ông.
      - Giới thiệu ngắn gọn xuất xứ của truyện : được sáng tác trong dịp đi thực tế  ở Lào Cai vào tháng 6 và 7 năm 1970 và được in trong tập Giữa trong xanh, xuất bản năm 1972.
      - Giá trị nội dung của truyện được thể hiện ở sự khắc họa thành công hình ảnh những người lao động bình thường mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mình trên đỉnh núi cao. Đó là một thanh niên giàu nghị lực đã vượt qua hoàn cảnh bằng những suy nghĩ rất đẹp, giản dị mà sâu sắc; có những tính cách và phẩm chất đáng mến: hiếu khách, cởi mở và chân tình; khiêm tốn, thành thật; có đời sống tâm hồn trẻ trung, phong phú và lành mạnh. Đó là những người lao động khác: ông kỹ sư vườn rau Sa Pa, người cán bộ nghiên cứu về sét… Qua đó, truyện còn khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
      - Giá trị nghệ thuật của truyện được thể hiện trong tình huống truyện hợp lý, trong cách kể chuyện tự nhiên, trong nghệ thuật xây dựng nhân vật chân thật, sống động và trong sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình và bình luận.
2.   Trong nhan đề Lặng lẽ Sa Pa, tác giả đã sắp xếp các từ khác với trật tự thông thường. Tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ (lặng lẽ Sa Pa thay vì Sa Pa lặng lẽ) nhằm làm nổi bật tính chất lặng lẽ của Sa Pa và tinh thần lao động thầm lặng đáng quý của những con người trên vùng đất Sa Pa đúng với cảm hứng của nhà văn Nguyễn Thành Long khi sáng tác truyện : « Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc » , hy sinh, yêu thương và mơ ước.
3.   Thí sinh có thể ghi lại một dẫn chứng ở một bài thơ đã học có biện pháp đảo ngữ. Câu hỏi chỉ yêu cầu nêu rõ tên tác phẩm và dẫn chứng không giới hạn năm học. Do vậy, học sinh có thể lấy dẫn chứng ở chương trình lớp 9 mà cũng có thể ở các lớp dưới. Đây là một vài ví dụ :
      - Một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽdâng cho đời. (Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
      - Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà. (Qua đèo Ngang Bà Huyện Thanh Quan)
      - Ung dung buồng lái ta ngồi, nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng. (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật).
      Điều này cho thấy đảo ngữ là một biện pháp tu từ được dùng phổ biến trong thơ văn.
Lý Tú Anh
(Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)


TS 10 tại HCM năm 2012: Đề và gợi ý môn Văn

By Anonymous →

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khóa ngày 21 tháng 06 năm 2012 tại TPHCM
Môn thi : VĂN
Thời gian: 120 phút (không tính thời gian giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC

Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật nào ? Nêu tác dụng của việc chọn ngôi kể đó (1 điểm)
Câu 2: (1 điểm)
                                    Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
                                    Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
                                    Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
                                    Óng tre ngà và mềm mại như tơ
                                                                        (Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)
            Tìm và gọi tên thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên. Cho biết thành phần ấy được dùng để làm gì trong đoạn thơ?
Câu 3: (3 điểm)
            Trong loạt bài trên báo Tuổi trẻ chủ nhật bàn về thế hệ gấu bông có đề cập hai hiện tượng:
1.      Một cô bé mười lăm tuổi, được mẹ chở đi đánh cầu lông. Xe hai mẹ con bị va quẹt, đồ đạc trên xe văng tung tóe. Người mẹ vội vàng gom nhặt, vài người đi đường cũng dừng lại phụ giúp còn cô bé thờ ơ đứng nhìn. Đợi mẹ nhặt xong mọi thứ, cô bé leo lên xe và thản nhiên dặn: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!”.
2.      Một cậu học sinh khi được hỏi về ca sĩ nổi tiếng mà cậu hâm mộ, cậu đã trả lời rất rành mạch về cách ăn mặc, sở thích của ca sĩ đó. Nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp, sở thích của cha mẹ cậu, cậu ta ấp úng, không trả lời được.
Là người con trong gia đình, em hãy trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trên qua một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi).
Câu 4: (5 điểm)
            Hãy chọn và phân tích một hoặc hai khổ thơ trong các bài thơ của chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 để nêu bật vẻ đẹp con người Việt Nam.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1: Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê được trần thuật từ nhân vật Phương Định, cô thanh niên xung phong làm công tác trinh sát mặt đường trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ngôi kể nói trên có tác dụng làm cho giọng kể có tính chất tự nhiên, thoải mái, trẻ trung, phù hợp với đặc điểm của nhân vật. Ngoài ra, chọn ngôi kể như thế sẽ làm tăng tính chất thuyết phục của tác phẩm (câu chuyện được kể từ người trong cuộc) và thể hiện sống động tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn của những cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong thời chống Mỹ, nhất là của nhân vật chính : Phương Định.
Câu 2:  Thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên thể hiện ở từ “Ôi”. Đây là thành phần cảm thán. Trong đoạn thơ nó được sử dụng để biểu hiện cảm xúc (lòng yêu mến) của nhà thơ đối với tiếng Việt.
Câu 3:
Học sinh có thể làm nhiều cách khác nhau miễn là có đủ một số ý theo quy định. Sau đây là một cách làm cụ thể:
·        Mở bài: Đặt vấn đề: Sự vô tâm của thế hệ gấu bông đã làm giật mình các bậc cha mẹ. Hai hiện tượng mà báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã nêu là khá phổ biến. Đó cũng là thể hiện của sự suy tàn về chữ hiếu và vi phạm nghiêm trọng đạo đức con người Á Đông. Hai hiện tượng trên như một lời cảnh tỉnh đối với bổn phận làm con của chúng ta.
·        Thân bài:
+ Biểu hiện: Giải thích nội dung của hai hiện tượng trên nói lên sự vô tâm của thế hệ trẻ đối với những người thân yêu nhất, có công nuôi dưỡng và bảo bọc chúng ta từ khi mới sinh ra – đó là cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, ...Hình ảnh một em bé thờ ơ khi mẹ đi nhặt đồ và hồn nhiên nói: “Lát về mẹ nhớ mua cho con li chè!” cũng như hình ảnh một cậu học sinh rất rành về sở thích của ca sĩ cậu yêu thích mà chẳng biết gì về sở thích, nghề nghiệp, tâm trạng và niềm đau của bố mẹ mình. Điều đó đã tạo nên sự phản cảm mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc.
+ Nguyên nhân:
_ Giới trẻ thường chỉ quan tâm tới cuộc sống và sở thích của mình, đó là một trong những biểu hiện của thói ích kỉ.
_ Bậc cha mẹ thiếu sâu sát, thiếu quan tâm đúng mực đến hành vi, sở thích và nhân cách của con.
_ Nhà trường và xã hội thiếu phương pháp giáo dục đúng mực, thiếu những hoạt động để rèn luyện nhân cách của học sinh và gắn kết con cái với cha mẹ.
_ Nhà trường và gia đình còn thờ ơ với việc giáo dục cẩn trọng về đạo đức làm người và những đức tính như: hiếu thảo, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tính vị tha, khả năng chia sẻ với những người thân yêu, ...        
                  + Hậu quả:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
      _ Những hiện tượng trên là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng.
+ Cách khắc phục:
_ Chủ quan: bản thân mỗi con người phải ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, rèn luyện lòng nhân ái, lòng vị tha từ những việc nhỏ nhặt nhất.
_  Khách quan: gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc giáo dục nhân cách cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới những người thân yêu, gần gũi với mình, dạy học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp cùa lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có trách nhiệm.
_ Lên án mạnh mẽ lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ.
·        Kết bài: Hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những người đã từng mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là hồi chuông cảnh tỉnh đối với thế hệ trẻ nói riêng và đối với tất cả những người Việt Nam.
Câu 4: Đây là một đề làm văn có tính chất tự do. Nó cho phép người làm bài được tự do lựa chọn đối tượng để phân tích. Tuy nhiên, người làm bài phải tôn trọng những giới hạn được quy định trong đề. Thứ nhất, người làm bài chỉ được phép chọn một hoặc hai khổ thơ (không được hơn hai khổ thơ hoặc cả bài). Một, hai khổ thơ đó phải ở trong các bài thơ thuộc chương trình văn học Việt Nam hiện đại lớp 9 (Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Bếp lửa, Ánh trăng, Đoàn thuyền đánh cá, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Sang thu, Nói với con). Thứ hai, các khổ thơ được chọn phải có nội dung liên quan tới vẻ đẹp của con người Việt Nam. Thứ ba, khi phân tích, người làm bài phải có ý thức nêu bật được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong một hoặc hai khổ thơ nói trên. Những vi phạm các yêu cầu nói trên sẽ làm cho bài viết rơi vào tình trạng xa đề, lan man hoặc lạc đề.
            Để có được kết quả tốt, bài viết còn phải có bố cục rõ ràng. Bài viết không mắc các lỗi về hành văn. Đặc biệt, phải thực hiện tốt thao tác phân tích một đoạn thơ, phải phân tích những yếu tố nghệ thuật của thơ để làm rõ giá trị của nó.
            Đây là một câu hỏi làm văn. Cho nên bài viết phải có đủ ba phần : mở bài, thân bài, kết bài. Trong phần mở bài, nên giới thiệu tác giả, bài thơ và đặc biệt là một hoặc hai khổ thơ được chọn để phân tích. Trong phần thân bài, cần giới thiệu vị trí của phần thơ được chọn trong bài thơ, giới thiệu đại ý của phần thơ được chọn. Sau đó, phân tích và làm rõ vẻ đẹp của con người Việt Nam trong phần thơ đó. Có thể, nhận xét và đánh giá ý nghĩa của phần thơ đối với cả bài, đối với đề tài. Cuối cùng, trong phần kết bài cần tổng kết khẳng định phần thơ thể hiện vẻ đẹp của con người Việt Nam.
            Có thể hình dung vẻ đẹp của con người Việt Namqua các bài thơ như sau :
-         Đồng chí : vẻ đẹp của tình đồng chí ở những con người xuất thân từ đồng ruộng, gắn bó với nhau, lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ.
-         Bài thơ về tiểu đội xe không kính : vẻ đẹp của người bộ đội lái xe trên đường mòn Trường Sơn thời đánh Mỹ : ung dung, lạc quan, khí phách, hiên ngang coi thường khó khăn gian khổ, yêu thương đất nước và miền Nam ruột thịt.
-         Đoàn thuyền đánh cá : vẻ đẹp của người lao động, của người ngư dân trong công cuộc lao động xây dựng đất nước (lạc quan, chủ động, tích cực, hào hùng, đầy ân tình).
-         Bếp lửa : vẻ đẹp của tình bà cháu; vẻ đẹp của người bà, người phụ nữ Việt Nam giàu lòng yêu thương (gia đình, đất nước), tần tảo hy sinh, chịu thương chịu khó; tấm lòng biết ơn trân trọng của cháu đối với bà.
-         Ánh trăng : vẻ đẹp của con người Việt Namthể hiện trong sự gắn bó ân tình của con người với thiên nhiên, trong lời nhắc nhở phải biết thủy chung, uống nước nhớ nguồn.
-         Mùa xuân nho nhỏ : vẻ đẹp của con người Việt Nam: yêu thiên nhiên; hăng hái tích cực trong lao động xây dựng đất nước và chiến đấu bảo vệ tổ quốc; vẻ đẹp của con người nguyện cống hiến cả đời cho đất nước, nguyện làm một “mùa xuân nho nhỏ” cho đời.
-         Viếng lăng Bác : vẻ đẹp của Bác Hồ, “mặt trời trong lăng rất đỏ”; vẻ đẹp của tấm lòng trân trọng, kính yêu đối với Bác Hồ.
-         Sang thu : vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong lúc giao mùa.
-         Nói với con : vẻ đẹp của con người Việt Nam được thể hiện trong lời tâm tình, nhắn nhủ của người cha đối với con : phải biết yêu quý gắn bó với gia đình, với quê hương, với đất nước; phải biết tự hào về vẻ đẹp của truyền thống, của đất nước; phải sống xứng đáng với gia đình, với đất nước.
Đây là một số gợi ý chung của cả bài. Mỗi phần thơ được chọn sẽ có nội dung cụ thể. Người làm bài sẽ căn cứ vào phần thơ đó phân tích để làm rõ vẻ đẹp cụ thể được biểu hiện trong phần thơ.
           
Nguyễn Đức Hùng
(Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)

Tuyển sinh 10 TP.HCM 2012-2013 :Thống kê đăng ký nguyện vọng

By Anonymous →

ỦY BAN NHÂN DÂN        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                              Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                                                             
Số: 1250/GDĐT-KTKĐCLGD                  Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 5 năm 2012
 V/v thông báo số liệu tổng hợp ban đầu
về số học sinh đăng ký 3 nguyện vọng.

Kính gửi:
- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo các quận, huyện;
- Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông;
- Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên;
- Hiệu trưởng các trường bổ túc văn hóa khối trường ngành và khối trực thuộc.
Tiếp theo văn bản số 871/GDĐT-KTKĐCLGD ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn xét tuyển và thi tuyển vào lớp 10 năm học 2012 - 2013,
Sở Giáo dục và Đào tạo thông báo số liệu tổng hợp ban đầu về số học sinh đăng ký dự thi vào từng trường để phụ huynh học sinh và học sinh tham khảo (đính kèm bảng số liệu ban đầu) và có thể xin điều chỉnh lại nguyện vọng.
Thời gian điều chỉnh nguyện vọng từ ngày 21 tháng 5 năm 2012 đến ngày 26 tháng 5 năm 2012. Học sinh làm lại đơn mới, hủy đơn cũ và nộp tại trường phổ thông nơi học lớp 9.
Ngày 28 tháng 5 năm 2012 Phòng Giáo dục và Đào tạo các quận, huyện gửi đĩa CD danh sách thí sinh về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục - Sở Giáo dục và Đào tạo.

Nơi nhận:                                                                         KT. GIÁM ĐỐC

- Như trên;                                                                          PHÓ GIÁM ĐỐC
- Ban Giám đốc Sở GD&ĐT.;                                                                         (đã ký)
- Các Phòng, ban Sở GD&ĐT;
- Lưu: VP, KTKĐCLGD.
Nguyễn Tiến Đạt



THỐNG KÊ NGUYỆN VỌNG BAN ĐẦU

KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 KHÓA NGÀY 21, 22 THÁNG 6 NĂM 2012

(Đính kèm Công văn số 1250/GDĐT-KTKĐCLGD ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo)







STT
Trường
Chỉ tiêu
NV1
NV2
NV3
1
THPT Trưng Vương
675
1248
899
72
2
THPT Bùi Thị Xuân
630
1770
65
11
3
THPT Ten Lơ Man
720
554
1050
1099
4
THPT Năng khiếu TDTT
180
37
115
627
5
THPT Lương Thế Vinh
360
549
731
504
6
THPT Lê Quý Đôn
450
912
730
87
7
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
580
1543
134
16
8
THPT Lê Thị Hồng Gấm
400
213
526
580
9
THPT Marie Curie
1135
1167
1658
1434
10
THPT Nguyễn Thị Diệu
630
479
1118
1212
11
THPT Nguyễn Trãi
675
964
604
197
12
THPT Nguyễn Hữu Thọ
410
189
792
1322
13
Trung học thực hành Sài Gòn
140
318
309
58
14
THPT Hùng Vương
1170
1787
938
150
15
Trung học thực hành ĐHSP
175
628
24
5
16
THPT Trần Khai Nguyên
960
1693
1892
600
17
THPT Trần Hữu Trang
315
229
463
634
18
THPT Lê Thánh Tôn
540
601
1010
556
19
THPT Tân Phong
675
77
1003
1400
20
THPT Ngô Quyền
720
1139
392
264
21
THPT Nam Sài Gòn
70
71
56
84
22
THPT Lương Văn Can
675
1033
676
480
23
THPT Ngô Gia Tự
675
305
1071
1467
24
THPT Tạ Quang Bửu
585
804
1135
598
25
THPT Nguyễn Văn Linh
810
94
573
2597
26
THPT năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định
315
179
243
1155
27
THPT Nguyễn Khuyến
800
1633
1075
172
28
THPT Nguyễn Du
420
727
408
15
29
THPT Nguyễn An Ninh
810
421
1235
1913
30
THPT Diên Hồng
270
179
786
1574
31
THPT Sương Nguyệt Anh
180
235
712
1443
32
THPT Nguyễn Hiền
390
668
261
84
33
THPT Trần Quang Khải
675
982
1120
524
34
THPT Nam Kỳ Khởi Nghĩa
675
1016
1165
1040
35
THPT Võ Trường Toản
585
1174
590
116
36
THPT Trường Chinh
720
1098
1662
870
37
THPT Thạnh Lộc
630
383
703
2167
38
THPT Thanh Đa
540
406
689
1088
39
THPT Võ Thị Sáu
855
1167
1565
211
40
THPT Gia Định
900
1939
314
35
41
THPT Phan Đăng Lưu
750
789
1343
1140
42
THPT Bình Lợi Trung
720
248
667
1113
43
THPT Hoàng Hoa Thám
855
1096
1599
1094
44
THPT Gò Vấp
765
881
1109
439
45
THPT Nguyễn Công Trứ
900
2079
144
15
46
THPT Trần Hưng Đạo
900
1448
1532
110
47
THPT Nguyễn Trung Trực
900
264
1262
2796
48
THPT Phú Nhuận
630
1369
375
43
49
THPT Hàn Thuyên
765
442
1058
4307
50
THPT Tân Bình
675
760
1062
387
51
THPT Nguyễn Chí Thanh
810
1082
1211
504
52
THPT Trần Phú
810
2010
584
21
53
THPT Nguyễn Thượng Hiền
540
1890
12
3
54
THPT Lý Tự Trọng
540
414
2136
1802
55
THPT Nguyễn Thái Bình
675
660
1149
1326
56
THPT Long Thới
480
277
259
361
57
THPT Phước Kiển
675
71
238
1337
58
THPT Tây Thạnh
675
1457
1159
1155