Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Người đàn bà hàng chài"

Đề - Đáp án chính thức môn Văn GDTX 2011

By Anonymous →
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011
Môn thi : NGỮ VĂN - Gíao dục thường xuyên

Câu 1 (2,0 điểm)
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
Câu 2 (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thực trạng tai nạn giao thông ở
nước ta hiện nay.
Câu 3 (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009).

-------------------------
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
(Văn bản gồm 02 trang)
I. Hướng dẫn chung
1. Giám khảo cần nắm vững các yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bàilàm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
2. Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
3. Việc chi tiết hóa điểm số các ý (nếu có), phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm củamỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
4. Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn đến 0,5; 0,75 làm tròn thành 1,0).
II. Đáp án và thang điểm
Đáp án
Điểm
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
- Nhân vật chính An-đrây Xô-cô-lốp có một cuộc đời đau khổ: chiến tranh xảy ra,anh nhập ngũ, bị thương, bị đoạ đày trong trại tập trung của phát xít; trốn thoát trở về với Hồng quân, anh biết tin vợ và hai con gái bị bom giặc giết hại; người con trai duy nhất hi sinh vào ngày chiến thắng.
0,5
- Chiến tranh kết thúc, được giải ngũ nhưng Xô-cô-lốp không về quê; anh đến ởvới gia đình người bạn và lái xe cho một đội vận tải.
0,5
- Xô-cô-lốp gặp và nhận bé Va-ni-a mồ côi làm con; trái tim anh đã trở nên êm dịu hơn nhưng nỗi đau mất mát vẫn chưa nguôi.
0,5
- Gặp rủi ro trong công việc, Xô-cô-lốp bị tước bằng lái xe; anh và bé Va-ni-a lại lên đường đến một vùng đất mới.
0,5
Câu 1
(2,0 đ)
Lưu ý: Thí sinh có thể tóm tắt theo nhiều cách nhưng phải nêu đủ các ý trên; diễn
đạt rõ ràng mới được điểm tối đa.
Trình bày suy nghĩ về thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay.
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; khôngmắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng luận điểm phải rõ ràng, lí lẽ và dẫnchứng hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,5
Câu 2
(3,0 đ)
- Trình bày thực trạng:
+ Tai nạn giao thông diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên khắp đất nước, với nhiều loại phương tiện, trên nhiều loại đường, ...
1,0
+ Tai nạn giao thông gây ra những thiệt hại lớn về người, về của và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
- Phân tích nguyên nhân:
+ Sự hiểu biết, ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế.
+ Cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông chưa đảm bảo tiêu chuẩn.
0,5
- Bàn luận về giải pháp:
+ Mỗi người cần nâng cao ý thức tìm hiểu và chấp hành luật lệ giao thông.
+ Từng bước nâng cấp cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông; tích cực tuyên truyền Luật giao thông; nghiêm túc xử lí những người vi phạm.
0,5
- Bài học nhận thức và hành động.
0,5
Lưu ý:
- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Nếu thí sinh có những suy nghĩ riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận.
Câu 3
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách phân tích một hình tượng nhân vật. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắclỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở hiểu biết về nhà văn Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyềnngoài xa (chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai), thí sinh có thể trình bàytheo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,5
- Ngoại hình xấu xí, thô kệch, toát ra sự lam lũ, mệt mỏi, cam chịu.
0,5
- Số phận éo le, bất hạnh; nạn nhân của cái đói, cái nghèo và bạo lực gia đình; ...
1,0
- Phẩm chất:
+ Giàu tình thương, đức hi sinh, lòng vị tha.
+ Thấu hiểu lẽ đời; biết trân trọng từng niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống đời
thường.
1,5
- Nghệ thuật: nhân vật được đặt trong những tình huống khác nhau; được khắc hoạ khách quan, chân thực, vừa có cá tính sắc nét vừa có tính điển hình; ngôn ngữ nhânvật sinh động, phù hợp với tính cách.
1,0
- Đánh giá chung về nhân vật.
0,5

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến
thức.
---------Hết---------

Đề-Gợi ý TN Bổ túc THPT năm 2010-2011

By Anonymous →
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011
Môn thi : NGỮ VĂN - Gíao dục thường xuyên
Câu 1 (2,0 điểm)
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
Câu 2 (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thực trạng tai nạn giao thông ở
nước ta hiện nay.
Câu 3 (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn
Minh Châu (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009).
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1:
Truyện ngắn “ Số phận con người “ của nhà văn Xô Viết nổi tiếng Sô-lô-khốp kể về cuộc đời của một
người Xô Viết tiêu biểu cho tính cách Nga : Xô-cô-lốp .
Mùa xuân năm 1946, trên đđường đi công tác, tác giả gặp anh lái xe An-đrây Xô-cô-lốp và được anh kể
cho nghe cuộc đời đau khổ của anh .
Năm đói 1922, cả nhà Xô-cô-lốp chết đói, chỉ mình anh đi làm thuê cho phú nông nên sống sót. Xô-cô-
lốp làm nghề mộc, nghề nguội, rồi lấy vợ, dần dần xây dựng được gia đình hạnh phúc, có nhà cửa, vợ hiền và
ba con.
Chiến tranh bùng nổ, Xô-cô-lốp từ giã vợ con ra mặt trận . Anh bị thương, bị phát xít bắt làm tù binh, phải
chịu đựng bao sự tra tấn, hành hạ dã man của kẻ thù. Cuối cùng Xô-cô-lốp trốn khỏi trại tù, trở về với Hồng
quân và nhận được tin đau đớn: một trái bom của máy bay phát xít đã chôn vùi ngôi nhà cùng vợ và hai con gái
của anh.
Tuy nhiên, anh vẫn còn một hy vọng. A-na-tô-li, con trai lớn của anh, từng là học sinh giỏi toán, hiện là
đại úy pháo binh. Nhưng, đúng ngày 09-05-1945, ngày chiến thắng, một tên thiện xạ Đức đã bắn chết A-na-tô-li .
Sau khi chiến tranh kết thúc Xô-cô-lốp được giải ngũ. Quê hương, gia đình không còn người thân yêu
cho nên anh đến sống tại quê nhà của một đồng đội bằng nghề lái xe.
Do xúc động, anh nhận bé Va-ni-a, một đứa bé có cha mẹ  chết trong chiến tranh làm con. Chú bé ngây
thơ tin anh là cha ruột của nó. Xô-cô-lốp yêu thương chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là nguồn vui lớn.
Tuy nhiên, anh luôn bị ám ảnh về cái chết của vợ con. Nhiều đêm thức giấc thì gối đẫm nước mắt. Dù vậy anh
luôn giấu không cho bé Va-ni-a thấy tâm trạng đau khổ của anh.
Nhưng rồi do hòan cảnh rủi ro trong khi lái xe, anh bị tước bằng lái. Anh đưa bé Va-ni-a rời U-riu-pin-xcơ
đến nơi mới kiếm sống và để tạm quên nỗi đau buồn.
Câu 2:
Học sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi: trình bày suy nghĩ về thực trạng tai nạn giao
thông ở nước ta hiện nay. Bài viết có độ dài khoảng 400 từ với kết cấu đầy đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Sau đây là một số gợi ý:
- Tai nạn giao thông là một thực trạng đáng báo động trong tình hình giao thông hiện nay ở nước ta. Nó
đã gây ra những thiệt hại to lớn về tài sản, tính mạng và cả những hậu quả về mặt tinh thần lâu dài. Hậu quả ấy
liên quan đến cá nhân, gia đình và xã hội.
- Có những lý do dẫn tới sự gia tăng tai nạn giao thông: ý thức hạn chế của người tham gia giao thông,
hành vi bất cẩn hoặc không chấp hành đúng luật lệ giao thông, tình trạng đường sá, cầu cống xuống cấp hoặc
thiếu quy hoạch, sự gia tăng dân số quá nhanh so với quy hoạch về đường sá, quản lý nhà nước còn nhiều bất
cập…
- Đề xuất những giải pháp để hạn chế và khắc phục tình trạng tai nạn giao thông: tuyên truyền về luật lệ
giao thông, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, gia tăng mức phạt đối với những trường hợp vi
phạm luật lệ giao thông, có quy hoạch và mở rộng mạng lưới giao thông…
Câu 3:
Đây là kiểu bài phân tích nhân vật trong một tác phẩm văn xuôi. Do đó học sinh cần trình bày những đặc
điểm của nhân vật người đàn bà hàng chài, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của hình tượng nhân vật
trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
Học sinh có thể trình bày vấn đề theo những cách khác nhau. Đây là một số gợi ý cần thiết :
- Giới thiệu Nguyễn Minh Châu : là nhà văn tiêu biểu của thời kỳ chống Mỹ; người mở đường tinh anh
của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; nhà văn luôn ưu tư và trăn trở về những vấn đề liên quan tới số
phận con người.
- Giới thiệu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”: được sáng tác năm 1983; được in vào tập “Bến Quê” năm 1985; được tuyển in lại trong “Chiếc thuyền ngoài xa” năm 1987.
- Giới thiệu nhân vật “người đàn bà hàng chài” : một trong những nhân vật chính để lại nhiều ấn tượng
nơi người đọc.
- Đó là một người phụ nữ lam lũ, nghèo khổ. Chị trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng
xuất hiện với khuôn mặt mệt mỏi. Ngay từ ngoại hình, người đàn bà ấy đã gợi lên ấn tượng về một cuộc đời
nhọc nhằn, khắc khổ chịu đựng. Chị lại còn thường xuyên bị chồng bạo hành một cách rất tàn nhẫn: ba ngày
một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.
- Nhưng đó cũng là một người phụ nữ sắc sảo, thấu trãi lẽ đời. Khi cần thiết, chị cũng mạnh mẽ đương
đầu để bảo vệ gia đình (thái độ của chị khi trả lời chánh án Đẩu và Phùng). Chị rất thấu hiểu hoàn cảnh của bản
thân, cá tính của con người (chồng, con trai…), thiên chức của người phụ nữ, nhất là người phụ nữ sống ở trên
thuyền (phải sống khác với phụ nữ ở trên đất liền)…
- Chị là người giàu lòng yêu thương, vị tha và sự hy sinh. Chị thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị
chồng đánh “ không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy ”. Chị coi đó là lẽ đương nhiên,
chỉ đơn giản bởi trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người
đàn ông khoẻ mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của chị cần được sống và lớn lên… Tình thương con,
nỗi đau, sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời “ hình như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài ” và
một sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông.
- Tác giả chỉ gọi chị là “ người đàn bà ” một cách phiếm định. Tuy không có tên cụ thể, một người vô
danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể
hiện và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này.
- Đánh giá : Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân
hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
- Nhân vật người đàn bà hàng chài đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu đậm về hình ảnh
một người phụ nữ tiêu biểu cho số phận khổ đau và những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.
Hình tượng ấy được xây dựng một cách sống động và chắc chắn còn gợi ra nhiều suy nghĩ nơi người đọc hiện
nay.
------------------------------------
Nguyễn Hữu Dương
(Trung học phổ thông Vĩnh Viễn – TP.HCM)

Thi thử: TN THPT 2011 ở Nam Định

By Anonymous →
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN
Thời gian làm bài : 150 phút, không kể thời gian giao đề

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5.0 điểm)

Câu 1 (2 điểm) :
Nêu giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật của Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh).
Câu 2 (3 điểm) :

Anh /Chị hãy viết một văn bản nghị luận ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến sau :
“ Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái”. ( Lê Duẩn)
II. PHẦN RIÊNG (5.0 điểm):
Thí sinh học chương trình nào thì làm câu dành riêng cho chương trình đó.

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn:
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến ” của Quang Dũng :
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
(Ngữ văn 12, tập một, trang 88, NXB Giáo dục, 2008)

Câu 3b: Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao
Phân tích nhân vật người đàn bà vùng biển trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
(Ngữ văn 12, tập hai, trang 89, NXB Giáo dục, 2008)


HẾT

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh:............................................. ............
Số báo danh: ..........................



SỞ GD&ĐT THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
MÔN : NGỮ VĂN

HƯỚNG DẪN CHẤM
( Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)
I. Hướng dẫn chung
- Đề bài gồm 3 câu, theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài nghị luận xã hội; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt và lập luận. Chỉ những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 2 và câu 3 là bài làm văn, tích hợp kiểm tra cả kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.
- Do sử dụng đồng thời hai bộ sách giáo khoa nên giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng đáp án. Không buộc học sinh phải trả lời đúng theo cách diễn đạt của bộ sách nào.
- Nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí; không yêu cầu quá cao đối với mức điểm 9, 10; khuyến khích những bài làm có ý riêng, sáng tạo, văn viết có cảm xúc…
- Chỉ làm tròn điểm toàn bài (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0)

II. Đáp án và thang điểm

- PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH

Câu 1: (2 điểm) :
1/ Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:
- Giá trị lịch sử.
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của Việt Nam với thế giới; là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta.
- Giá trị nghệ thuật:
Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận đặc sắc, mẫu mực; lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, giọng văn đầy cảm xúc…
2/ Cho điểm :
- Điểm 2,0: Đáp ứng các yêu cầu về nội dung. Diễn đạt tốt. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.
- Điểm 1,0: Trình bày được khoảng nửa số ý. Còn mắc một số lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 0,0: Chỉ viết vài câu rời rạc, không rõ nội dung, không làm bài.
Giám khảo căn cứ vào bài làm để xác định các mức điểm cụ thể. Không yêu cầu học sinh viết đủ các cụm từ dùng trong đáp án. Sai lỗi chính tả, ngữ pháp tuỳ mức độ trừ từ 0.25đ đến 0.5đ…)
Câu 2 : (3 điểm)
a/Yêu cầu :
Về nội dung:
- Học sinh có thể giới thiệu vấn đề từ nhiều góc độ, nhưng phải nêu được ý kiến của Lê Duẩn về cái gốc của đạo đức, luân lí là lòng nhân ái.
- Giải thích lòng nhân ái : là lòng yêu thương con người. Các biểu hiện của lòng nhân ái: đồng cảm, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc những người thiệt thòi, bất hạnh…
- Vì sao nói “cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái”: Đạo đức, luân lí là cách sống, cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với quan niệm xã hội về lẽ phải. Cái gốc của mọi mối quan hệ xã hội đúng đắn, tốt đẹp chính là lòng yêu thương, quý trọng con người. Ngược lại, người có lòng thương yêu đất nước quê hương, thương người lao khổ, bất hạnh…là người có đạo đức tốt đẹp. Nêu một vài dẫn chứng làm rõ lập luận.
- Lòng nhân ái là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy mọi ý nghĩ , mọi hành động để con người có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn..
- Suy nghĩ của bản thân trong việc bồi dưỡng lòng nhân ái.
Về kĩ năng:
- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận về các vấn đề xã hội, biết nêu vấn đề, giải thích, chứng minh, đánh giá vấn đề; từ đó rút ra bài học cho bản thân.
- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
b/Cho điểm:
- Điểm 3: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Văn viết trôi chảy. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.
- Điểm 2: Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; biết tìm dẫn chứng làm rõ lập luận.Văn viết trôi chảy; có thể mắc 3- lỗi chính tả, ngữ pháp .
- Điểm 1: Không rõ lập luận, không biết giải thích khái niệm, giải thích không chính xác; không có dẫn chứng; bài làm sơ sài, thiếu nhiều ý ; có trên 4 lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 00 : Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn
a/ Yêu cầu
Về nội dung :
Bài làm cần có các nội dung chính sau :
- Giới thiệu được những nét cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời, chủ đề của tác phẩm. Giới thiệu đoạn thơ cần phân tích.
- Bốn câu đầu đoạn trích là nỗi nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ cuả các chiến sĩ Tây Tiến và đồng bào địa phương. Nỗi nhớ thiết tha nên kí ức sống động, chân thực: các chi tiết vừa thực vừa mộng, lãng mạn. Nhà thơ miêu tả rất thành công không khí tưng bừng, sôi nổi; niềm hạnh phúc ngây ngất của các chiến sĩ trong những đêm văn nghệ ấy.
Học sinh cần hiểu đúng, giải thích hợp lí các từ ngữ: đuốc hoa, xiêm áo, man điệu…
- Bốn câu sau là nỗi nhớ về thiên nhiên, con người Tây Bắc với những nét độc đáo, ấn tượng: cảnh chiều sương Châu Mộc mà hồn thiên nhiên như đọng lại ở bờ lau, bến lách hoang dại. Đó là “ dáng người trên độc mộc”, vượt trên nước lũ, thể hiện vẻ đẹp mềm mại mà hào hùng trong công cuộc chế ngự thiên nhiên…
- Chỉ ra vài nét tiêu biểu về nghệ thuật trong đoạn thơ và bài thơ: bút pháp lãng mạn; hình ảnh sống động, độc đáo, từ ngữ chính xác giàu chất tạo hình. Giọng thơ linh hoạt: khi hào hùng rắn rỏi, khi uyển chuyển mềm mại, tinh tế…
Về kĩ năng :
- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận phân tích một đoạn thơ
- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
b/ Biểu điểm :
- Điểm 5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên ; kĩ năng giảng bình tốt, văn viết trôi chảy, có cảm xúc ; không mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp (1-2 lỗi).
- Điểm 4 : Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; giải thích từ ngữ, hình ảnh hợp lí, văn viết khá trôi chảy; có thể mắc 3-4 lỗi chính tả, ngữ pháp .
- Điểm 3 : Hiểu nội dung đoạn thơ. Trình bày được khoảng nửa số ý. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 2 : Không nắm vững nội dung đoạn thơ, giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ sơ sài, thiếu nhiều ý ; mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 1 : Không nắm vững tác giả, tác phẩm; hiểu sai nội dung đoạn thơ; không biết giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ…Bài viết có nhiều lỗi các loại.
- Điểm 0.0: Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.

Câu 3b (5 điểm) : Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao
. a/ Yêu cầu:
Về nội dung:
- Trên cơ sở nắm vững tác phẩm và những chi tiết về nhân vật người đàn bà vùng biển, học sinh phân tích, làm rõ diễn biến tâm trạng và số phận nhân vật.. Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải có các nội dung cơ bản sau:
- Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm; giới thiệu nhân vật người đàn bà.
- Phân tích cuộc đời, tính cách nhân vật qua ngoại hình, lời nói , hành vi…
“Người đàn bà” không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Bà ngoài 40, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ. Bà thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị chồng đánh “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”, chỉ đơn giản bởi trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên. Sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông.
Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
- Trên cơ sở phân tích nhân vật, phát hiện những vấn đề tác giả muốn đặt ra: sự phức tạp, đa chiều của cuộc sống, tình trạng đói nghèo và nạn bạo hành gia đình mà phụ nữ, trẻ em là nạn nhân; đức hi sinh của phụ nữ Việt Nam…
- Nhận biết được những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn về xây dụng hình tượng nhân vật.
Về kỹ năng:
- Biết làm bài văn nghị luận phân tích một nhân vật văn học trong thể loại truyện ngắn.
- Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt. Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
2/ Cho điểm:
- Điểm 5 : Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Văn viết có cảm xúc. Diễn đạt rõ ràng. Có thể còn một vài sai sót nhưng không đáng kể.
- Điểm 4: Đáp ứng cơ bản các yêu cầu trên. Hướng triển khai ý hợp lý. Có thể còn vài ba sai sót nhỏ.
- Điểm 3 : Nắm được nội dung tác phẩm, cuộc đời nhân vật. Trình bày được khoảng nửa số ý, ít dẫn chứng. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.
- Điểm 2: Chưa hiểu kỹ đề, bài viết quá sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt.Bài làm không rõ lập luận. Có quá nhiều lỗi nhỏ.
- Điểm 1 : Học sinh không nắm được tác phẩm, sai nhiều kiến thức cơ bản, bài làm không hoàn chỉnh; văn chưa thành câu.
- Điểm 0,0: Học sinh không làm bài hoặc chỉ viết một vài câu rời rạc, không thành ý