Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Số phận con người"

TN THPT 2012: Đáp án chính thức của Bộ giáo dục Môn Văn

By Anonymous →


Đề thi chính thức tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn năm 2012 (Thời gian 150 phút)

I. Phần chung dành cho tất cả các thí sinh (5 điểm)

Câu 1(2 điểm): Trong phần cuối tác phẩm Số phận con người, nhà văn M. Sô – lô – khốp viết: Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…
(Ngữ văn 12, Tập 2, tr 123, NXB Giáo dục - 2008)

Hai con người được nói ở trên là những nhân vật nào? Vì sao tác giả gọi họ là hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát trong câu văn có ý nghĩa gì?

Câu 2 (3 điểm):

Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

II. Phần riêng – Phần tự chọn (5 điểm)

Câu 3.a Theo chương trình chuẩn (5 điểm)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:

Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

(Ngữ văn 12, Tập một, tr. 111, NXB Giáo dục - 2009)

Câu 3.b – Theo Chương trình Nâng cao (5 điểm)

Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân

(Phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục - 2009)

-------------------------

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2012
Môn thi: NGỮ VĂN - Giáo dục trung học phổ thông
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
(Bản Hướng dẫn chấm thi gồm 02 trang)
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài
làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong
việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
- Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,50 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,50; lẻ 0,75
làm tròn thành 1,00 điểm).
II. Đáp án và thang điểm
Đáp án
Điểm
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Hai con người được nói đến là những nhân vật nào? Vì sao tác giả gọi họ là
hai con người côi cút? Hình ảnh hai hạt cát có ý nghĩa gì?
a. Hai con người được nói đến là A. Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a (hoặc Va-niu-ska).
0,50
b. Tác giả gọi họ là hai con người côi cút vì A. Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a đều mất
hết người thân trong chiến tranh.
0,50
c. Hình ảnh hai hạt cát có ý nghĩa:
- Những số phận bé nhỏ, mong manh, là nạn nhân của bão tố chiến tranh.
- Niềm cảm thương của tác giả dành cho các nhân vật.
(Nếu thí sinh chỉ nêu được một trong hai ý trên và có thêm lí giải riêng nhưng
hợp lí thì vẫn đạt điểm tối đa của ý c)
0,50
0,50
Câu 1
(2,0 đ)
Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách; diễn đạt rõ ràng, đủ ý thì đạt
điểm tối đa.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến:
Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí;
cần làm rõ được các ý chính sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận: tác hại của thói dối trá.
0,50
- Giải thích:
+ Thói dối trá là lối sống không trung thực nhằm mục đích vụ lợi; suy thoái về
đạo đức là sự tha hóa, làm mất dần đi những chuẩn mực đạo đức.
+ Ý kiến nêu lên tác hại của thói dối trá đối với con người và xã hội.
0,50
Câu 2
(3,0 đ)
- Bàn luận:
+ Biểu hiện: thói dối trá đang tồn tại ở con người trong nhiều lĩnh vực đời sống.
+ Tác hại: làm mất niềm tin; tạo ra những giá trị ảo; làm tha hóa đạo đức của con
người; làm thiệt hại đến vật chất và tinh thần của xã hội.
0,50
0,50

2
+ Lên án, đấu tranh để loại bỏ thói dối trá trong mỗi cá nhân và trong đời sống xã
hội.
0,50
- Bài học nhận thức và hành động: cần thấy sự nguy hại của thói dối trá; cần tu
dưỡng, rèn luyện bản thân để sống trung thực.
0,50
Lưu ý: Nếu thí sinh có kĩ năng làm bài tốt nhưng chỉ đi sâu bàn luận vào một vài
khía cạnh và có những suy nghĩ riêng, hợp lí thì vẫn đạt điểm tối đa.
II. PHẦN RIÊNG - PHẦN TỰ CHỌN (5,0 điểm)
Theo chương trình Chuẩn
Phân tích đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt
lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà thơ Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, thí sinh có
thể phân tích đoạn thơ theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,50
- Qua nỗi nhớ những ngày tháng kháng chiến cùng chia ngọt sẻ bùi, người cán
bộ về xuôi thể hiện tình cảm chân thành, tha thiết với Việt Bắc.
1,50
- Cuộc sống và con người Việt Bắc đơn sơ, bình dị, gian khổ nhưng lạc quan yêu
đời hiện lên qua hoài niệm của người cán bộ kháng chiến.
1,50
- Nghệ thuật: thể thơ lục bát với giọng điệu ngọt ngào, tha thiết; cặp đại từ mình
– ta, phép điệp giàu tính truyền thống; ngôn từ giản dị, mộc mạc, giàu hình ảnh,
giàu sức gợi cảm.
1,00
- Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.
0,50
Câu 3.a
(5,0 đ)
Lưu ý: Bài làm của thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau; cơ bản
đạt được các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức thì vẫn cho điểm tối đa.
Theo chương trình Nâng cao
Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách phân
tích một hình tượng văn học. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi
chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò
Sông Đà, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được các ý
cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,50
- Sông Đà dữ dằn, hung bạo: đá bờ sông dựng vách thành hiểm trở; mặt ghềnh
dữ dội; những hút nước nguy hiểm; thác nước cuồng nộ; trùng vi thạch trận hiểm
độc.
1,50
- Sông Đà thơ mộng, trữ tình: dòng chảy mềm mại, tha thướt; sắc nước biến ảo
theo mùa; bờ bãi hoang sơ, tĩnh lặng, gợi cảm, giàu chất thơ.
1,00
- Nhà văn đã nhìn, cảm nhận dòng sông bằng tình yêu, niềm say mê tha thiết và
miêu tả thành nhân vật văn học có tính cách phức tạp.
0,50
- Nghệ thuật: vận dụng kiến thức uyên bác; liên tưởng so sánh, nhân hóa độc
đáo, tài hoa; ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh; câu văn giàu nhạc
điệu.
1,00
- Đánh giá chung về ý nghĩa và nghệ thuật khắc họa hình tượng.
0,50
Câu 3.b
(5,0 đ)
Lưu ý: Bài làm của thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau; cơ bản
đạt được các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức thì vẫn cho điểm tối đa.
---------Hết---------

Thi TNTHPT 2012: Gợi ý chấm Môn Văn

By Anonymous →

Đề thi môn Văn

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (5 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
- Hai người được nhắc tới trong đoạn văn là An-đrây Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a
- Họ được gọi là "hai con người côi cút" vì cả hai đều là những nạn nhân của chiến tranh, đều bị chiến tranh cướp đi toàn bộ người thân, gia đình (Xô-cô-lốp bị mất vợ và các con còn Va-ni-a thì cha mẹ đều thiệt mạng trong chiến tranh). Đi ra từ cuộc chiến, họ chỉ có một mình, cô đơn, côi cút giữa cuộc đời.
- Hình ảnh so sánh Xô-cô-lôp và bé Va-ni-a như những "hạt cát bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ" là một hình ảnh vô cùng ấn tượng và giàu ý nghĩa. Nó nói lên thân phận nhỏ bé, vô nghĩa, vô định của những con người trong cơn bão tố chiến tranh. Hình ảnh so sánh một mặt thể hiện niềm xót thương, sự cảm thông của nhà văn dành cho những nạn nhân, những con người chịu nhiều bất hạnh trong chiến tranh đồng tố cáo sự tàn bạo, sức tàn phá khủng khiếp của chiến tranh.
Câu 2. (3 điểm)
Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: thói dối trá và những tác hại của nó đối với đời sống của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Thân bài
- Giải thích khái niệm: "dối trá" là hành vi con người không trung thực với bản thân và với người khác, nói và làm khác đi so với sự thực. Khi "dối trá" trở thành thói quen (thói dối trá), thành tính nết thì tác hại của nó vô cùng to lớn.
- Các biểu hiện của thói dối trá: Trong cuộc sống, thói dối trá được biểu hiện ở nhiều phương diện, nhiều cấp độ với rất nhiều biểu hiện phong phú. Người ta có thể dối trá trong giao tiếp (nói dối), trong học tập (quay cóp, gian lận, ...), trong công việc (báo cáo sai sự thực, bệnh thành tích, lừa gạt, ...). Người ta có thể dối trá với người khác và sống giả dối với chính bản thân mình (đây mới là điều đáng sợ nhất).
- Tác hại của thói dối trá:
+ Với mỗi cá nhân: dù dối trá với người khác hay sống giả dối với chính bản thân mình, thói dối trá đều có tác hại to lớn đối với mỗi cá nhân. Người dối trá sẽ không bao giờ có được lòng tin, sự yêu thương và cảm thông từ bạn bè và những người xung quanh. Bằng thủ đoạn dối trá, họ có thể đạt được một số mục tiêu trong thời điểm cụ thể nhưng sẽ không lâu bền. Sống giả dối với chính mình là nỗi đau khổ nhất.
+ Với cộng đồng: thói dối trá tạo ra tác hại to lớn, khiến quan hệ giữa người với người luôn trong tình trạng nghi kị lẫn nhau. Nó là tác nhân quan trọng dẫn tới sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
- Các biện pháp khắc phục:
+ Phê phán và xử lí thích đáng các hành vi, hiện tượng gian dối trong học tập, lao động.
+ Đẩy mạnh sự giáo dục lòng trung thực trong nhà trường.
+ Người lớn, những người có trách nhiệm cũng như mọi công dân cần nêu gương về cuộc sống trung thực, lành mạnh.
- Bài học nhận thức và hành động (với học sinh)
+ Trong học tập: Trung thực trong học tập và thi cử, chống mọi hành vi gian lận trong học tập.
+ Trong cuộc sống: Xây dựng quan hệ với mọi người dựa trên sự trung thực, chân thành.
Kết bài
Khẳng định tác hại to lớn của thói dối trá để từ đó có những nhận thức đúng đắn và hành động kiên quyết đẩy lùi thói dối trá khỏi cuộc sống.
II. PHẦN RIÊNG – PHẦN TỰ CHỌN (5 điểm)
Câu 3. (5 điểm) Chương trình Chuẩn
Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp thơ ca Tố Hữu song hành cùng sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Mỗi giai đoạn, mỗi sự kiện cách mạng đều tác động và in dấu ấn rõ nét trong từng trang thơ Tố Hữu.
- Giới thiệu tác phẩm: Việt Bắc là bài thơ được trích trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu, được sáng tác tháng 10 - 1954, được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu cho văn học thời kì kháng chiến chống Pháp, cũng là thành tựu nghệ thuật nổi bật trong sự nghiệp thơ Tố Hữu.
- Giới thiệu đoạn trích: Đoạn thơ phân tích nằm từ câu 25 đến câu 42 của bài thơ Việt Bắc, ghi lại nỗi nhớ của người ra đi (người cán bộ kháng chiến) về những kỉ niệm xúc động về một thời "đắng cay ngọt bùi" trong cuộc sống sinh hoạt và kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc.
Thân bài
- Nhận xét chung: Đoạn thơ 12 câu ghi lại những kỉ niệm xúc động về cuộc sống sinh hoạt, kháng chiến tuy thiếu thốn, gian khổ mà sâu nặng nghĩa tình. Điệp từ "nhớ" được lặp lại tới 5 lần, vang lên suốt từ đầu đến cuối đoạn thơ như một điệp khúc, phổ âm hưởng nỗi bâng khuâng, da diết, nhung nhớ cho toàn bộ đoạn thơ. Và sau nỗi nhớ ấy, các hình ảnh về cuộc sống, con người hiện lên chân thực, xúc động.
- Hai câu thơ đầu: Lời giới thiệu và cảm nhận chung về quãng đời gian khổ, thiếu thốn mà sâu đậm nghĩa tình. "Mình" và "ta" đã cùng nhau san sẻ biết bao cay đắng ngọt bùi.
- 4 câu thơ tiếp theo: Nỗi nhớ về cuộc sống và con người Việt Bắc.
+ Nỗi nhớ hướng về những kỉ niệm ấm áp nghĩa tình quân dân. Cao hơn cả nỗi nhớ là "niềm thương". Cuộc sống kháng chiến tuy thiếu thốn trăm bề nhưng vượt trên tất cả, những người cán bộ, chiến sĩ luôn cảm nhận được sự ấm áp từ tình cảm đùm bọc, sẻ chia của đồng bào Việt Bắc. Họ cùng nhau "chia ... sẻ nửa ... đắp cùng".
+ Nỗi nhớ về hình ảnh ấn tượng: "người mẹ nắng cháy lưng". Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho vẻ đẹp của bà mẹ Việt Bắc (cũng như bao bà mẹ Việt Nam): chịu thương chịu khó, thương yêu con, đùm bọc cho cán bộ chiến sĩ.
- 4 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về cuộc sống, sinh hoạt, công tác trong những ngày kháng chiến.
+ Những hình ảnh về cuộc sống kháng chiến bình dị, gần gũi vừa gian nan, vất vả vừa tràn đầy tinh thần lạc quan.
+ Tràn ngập câu thơ là những âm thanh tươi vui, rộn rã sự sống (tiếng lớp học i tờ, tiếng ca hát vang khắp núi đèo) và ánh sáng (những bó đuốc sáng giữa đồng khuya trong buổi liên hoan). Đó là sự lạc quan, tin tưởng vào cách mạng, vào kháng chiến, vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
- Hai câu thơ cuối: Nỗi nhớ lắng động trong những ấn tượng về cuộc sống nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc, để lại sự bâng khuâng, da diết khôn nguôi trong lòng người ra đi.
- Đặc sắc nghệ thuật: Phép điệp từ cùng với những hình ảnh vừa chân thực, bình dị mà giàu sức gợi, ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi mà chọn lọc là những điểm nhấn nghệ thuật tạo nên sức hút của đoạn thơ này.
Kết luận
Đánh giá tổng quát về ý nghĩa của đoạn thơ trong mạch nội dung, cảm xúc của toàn bài đồng thời khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Giáo viên tổ Ngữ văn Hocmai.vn

Đề - Đáp án chính thức môn Văn GDTX 2011

By Anonymous →
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011
Môn thi : NGỮ VĂN - Gíao dục thường xuyên

Câu 1 (2,0 điểm)
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
Câu 2 (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thực trạng tai nạn giao thông ở
nước ta hiện nay.
Câu 3 (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009).

-------------------------
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
(Văn bản gồm 02 trang)
I. Hướng dẫn chung
1. Giám khảo cần nắm vững các yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bàilàm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
2. Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
3. Việc chi tiết hóa điểm số các ý (nếu có), phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm củamỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
4. Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn đến 0,5; 0,75 làm tròn thành 1,0).
II. Đáp án và thang điểm
Đáp án
Điểm
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
- Nhân vật chính An-đrây Xô-cô-lốp có một cuộc đời đau khổ: chiến tranh xảy ra,anh nhập ngũ, bị thương, bị đoạ đày trong trại tập trung của phát xít; trốn thoát trở về với Hồng quân, anh biết tin vợ và hai con gái bị bom giặc giết hại; người con trai duy nhất hi sinh vào ngày chiến thắng.
0,5
- Chiến tranh kết thúc, được giải ngũ nhưng Xô-cô-lốp không về quê; anh đến ởvới gia đình người bạn và lái xe cho một đội vận tải.
0,5
- Xô-cô-lốp gặp và nhận bé Va-ni-a mồ côi làm con; trái tim anh đã trở nên êm dịu hơn nhưng nỗi đau mất mát vẫn chưa nguôi.
0,5
- Gặp rủi ro trong công việc, Xô-cô-lốp bị tước bằng lái xe; anh và bé Va-ni-a lại lên đường đến một vùng đất mới.
0,5
Câu 1
(2,0 đ)
Lưu ý: Thí sinh có thể tóm tắt theo nhiều cách nhưng phải nêu đủ các ý trên; diễn
đạt rõ ràng mới được điểm tối đa.
Trình bày suy nghĩ về thực trạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay.
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; khôngmắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng luận điểm phải rõ ràng, lí lẽ và dẫnchứng hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,5
Câu 2
(3,0 đ)
- Trình bày thực trạng:
+ Tai nạn giao thông diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên khắp đất nước, với nhiều loại phương tiện, trên nhiều loại đường, ...
1,0
+ Tai nạn giao thông gây ra những thiệt hại lớn về người, về của và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
- Phân tích nguyên nhân:
+ Sự hiểu biết, ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế.
+ Cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông chưa đảm bảo tiêu chuẩn.
0,5
- Bàn luận về giải pháp:
+ Mỗi người cần nâng cao ý thức tìm hiểu và chấp hành luật lệ giao thông.
+ Từng bước nâng cấp cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông; tích cực tuyên truyền Luật giao thông; nghiêm túc xử lí những người vi phạm.
0,5
- Bài học nhận thức và hành động.
0,5
Lưu ý:
- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
- Nếu thí sinh có những suy nghĩ riêng mà hợp lí thì vẫn được chấp nhận.
Câu 3
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
a. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biết cách phân tích một hình tượng nhân vật. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắclỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở hiểu biết về nhà văn Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyềnngoài xa (chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai), thí sinh có thể trình bàytheo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
0,5
- Ngoại hình xấu xí, thô kệch, toát ra sự lam lũ, mệt mỏi, cam chịu.
0,5
- Số phận éo le, bất hạnh; nạn nhân của cái đói, cái nghèo và bạo lực gia đình; ...
1,0
- Phẩm chất:
+ Giàu tình thương, đức hi sinh, lòng vị tha.
+ Thấu hiểu lẽ đời; biết trân trọng từng niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống đời
thường.
1,5
- Nghệ thuật: nhân vật được đặt trong những tình huống khác nhau; được khắc hoạ khách quan, chân thực, vừa có cá tính sắc nét vừa có tính điển hình; ngôn ngữ nhânvật sinh động, phù hợp với tính cách.
1,0
- Đánh giá chung về nhân vật.
0,5

Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến
thức.
---------Hết---------

Đề-Gợi ý TN Bổ túc THPT năm 2010-2011

By Anonymous →
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2011
Môn thi : NGỮ VĂN - Gíao dục thường xuyên
Câu 1 (2,0 điểm)
Tóm tắt tác phẩm Số phận con người của nhà văn M. Sô-lô-khốp.
Câu 2 (3,0 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thực trạng tai nạn giao thông ở
nước ta hiện nay.
Câu 3 (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn
Minh Châu (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục – 2009).
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1:
Truyện ngắn “ Số phận con người “ của nhà văn Xô Viết nổi tiếng Sô-lô-khốp kể về cuộc đời của một
người Xô Viết tiêu biểu cho tính cách Nga : Xô-cô-lốp .
Mùa xuân năm 1946, trên đđường đi công tác, tác giả gặp anh lái xe An-đrây Xô-cô-lốp và được anh kể
cho nghe cuộc đời đau khổ của anh .
Năm đói 1922, cả nhà Xô-cô-lốp chết đói, chỉ mình anh đi làm thuê cho phú nông nên sống sót. Xô-cô-
lốp làm nghề mộc, nghề nguội, rồi lấy vợ, dần dần xây dựng được gia đình hạnh phúc, có nhà cửa, vợ hiền và
ba con.
Chiến tranh bùng nổ, Xô-cô-lốp từ giã vợ con ra mặt trận . Anh bị thương, bị phát xít bắt làm tù binh, phải
chịu đựng bao sự tra tấn, hành hạ dã man của kẻ thù. Cuối cùng Xô-cô-lốp trốn khỏi trại tù, trở về với Hồng
quân và nhận được tin đau đớn: một trái bom của máy bay phát xít đã chôn vùi ngôi nhà cùng vợ và hai con gái
của anh.
Tuy nhiên, anh vẫn còn một hy vọng. A-na-tô-li, con trai lớn của anh, từng là học sinh giỏi toán, hiện là
đại úy pháo binh. Nhưng, đúng ngày 09-05-1945, ngày chiến thắng, một tên thiện xạ Đức đã bắn chết A-na-tô-li .
Sau khi chiến tranh kết thúc Xô-cô-lốp được giải ngũ. Quê hương, gia đình không còn người thân yêu
cho nên anh đến sống tại quê nhà của một đồng đội bằng nghề lái xe.
Do xúc động, anh nhận bé Va-ni-a, một đứa bé có cha mẹ  chết trong chiến tranh làm con. Chú bé ngây
thơ tin anh là cha ruột của nó. Xô-cô-lốp yêu thương chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là nguồn vui lớn.
Tuy nhiên, anh luôn bị ám ảnh về cái chết của vợ con. Nhiều đêm thức giấc thì gối đẫm nước mắt. Dù vậy anh
luôn giấu không cho bé Va-ni-a thấy tâm trạng đau khổ của anh.
Nhưng rồi do hòan cảnh rủi ro trong khi lái xe, anh bị tước bằng lái. Anh đưa bé Va-ni-a rời U-riu-pin-xcơ
đến nơi mới kiếm sống và để tạm quên nỗi đau buồn.
Câu 2:
Học sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi: trình bày suy nghĩ về thực trạng tai nạn giao
thông ở nước ta hiện nay. Bài viết có độ dài khoảng 400 từ với kết cấu đầy đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Sau đây là một số gợi ý:
- Tai nạn giao thông là một thực trạng đáng báo động trong tình hình giao thông hiện nay ở nước ta. Nó
đã gây ra những thiệt hại to lớn về tài sản, tính mạng và cả những hậu quả về mặt tinh thần lâu dài. Hậu quả ấy
liên quan đến cá nhân, gia đình và xã hội.
- Có những lý do dẫn tới sự gia tăng tai nạn giao thông: ý thức hạn chế của người tham gia giao thông,
hành vi bất cẩn hoặc không chấp hành đúng luật lệ giao thông, tình trạng đường sá, cầu cống xuống cấp hoặc
thiếu quy hoạch, sự gia tăng dân số quá nhanh so với quy hoạch về đường sá, quản lý nhà nước còn nhiều bất
cập…
- Đề xuất những giải pháp để hạn chế và khắc phục tình trạng tai nạn giao thông: tuyên truyền về luật lệ
giao thông, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, gia tăng mức phạt đối với những trường hợp vi
phạm luật lệ giao thông, có quy hoạch và mở rộng mạng lưới giao thông…
Câu 3:
Đây là kiểu bài phân tích nhân vật trong một tác phẩm văn xuôi. Do đó học sinh cần trình bày những đặc
điểm của nhân vật người đàn bà hàng chài, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của hình tượng nhân vật
trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
Học sinh có thể trình bày vấn đề theo những cách khác nhau. Đây là một số gợi ý cần thiết :
- Giới thiệu Nguyễn Minh Châu : là nhà văn tiêu biểu của thời kỳ chống Mỹ; người mở đường tinh anh
của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; nhà văn luôn ưu tư và trăn trở về những vấn đề liên quan tới số
phận con người.
- Giới thiệu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”: được sáng tác năm 1983; được in vào tập “Bến Quê” năm 1985; được tuyển in lại trong “Chiếc thuyền ngoài xa” năm 1987.
- Giới thiệu nhân vật “người đàn bà hàng chài” : một trong những nhân vật chính để lại nhiều ấn tượng
nơi người đọc.
- Đó là một người phụ nữ lam lũ, nghèo khổ. Chị trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng
xuất hiện với khuôn mặt mệt mỏi. Ngay từ ngoại hình, người đàn bà ấy đã gợi lên ấn tượng về một cuộc đời
nhọc nhằn, khắc khổ chịu đựng. Chị lại còn thường xuyên bị chồng bạo hành một cách rất tàn nhẫn: ba ngày
một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.
- Nhưng đó cũng là một người phụ nữ sắc sảo, thấu trãi lẽ đời. Khi cần thiết, chị cũng mạnh mẽ đương
đầu để bảo vệ gia đình (thái độ của chị khi trả lời chánh án Đẩu và Phùng). Chị rất thấu hiểu hoàn cảnh của bản
thân, cá tính của con người (chồng, con trai…), thiên chức của người phụ nữ, nhất là người phụ nữ sống ở trên
thuyền (phải sống khác với phụ nữ ở trên đất liền)…
- Chị là người giàu lòng yêu thương, vị tha và sự hy sinh. Chị thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị
chồng đánh “ không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy ”. Chị coi đó là lẽ đương nhiên,
chỉ đơn giản bởi trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người
đàn ông khoẻ mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của chị cần được sống và lớn lên… Tình thương con,
nỗi đau, sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời “ hình như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài ” và
một sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông.
- Tác giả chỉ gọi chị là “ người đàn bà ” một cách phiếm định. Tuy không có tên cụ thể, một người vô
danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể
hiện và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này.
- Đánh giá : Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân
hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.
- Nhân vật người đàn bà hàng chài đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu đậm về hình ảnh
một người phụ nữ tiêu biểu cho số phận khổ đau và những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.
Hình tượng ấy được xây dựng một cách sống động và chắc chắn còn gợi ra nhiều suy nghĩ nơi người đọc hiện
nay.
------------------------------------
Nguyễn Hữu Dương
(Trung học phổ thông Vĩnh Viễn – TP.HCM)

Đề thi minh họa TN THPT-3

By Anonymous →
ĐỀ THI MINH HỌA TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(Thời gian làm bài: 150 phút)

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu I. (2,0 điểm)

Tóm tắt truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp (phần trích trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, 2008).


Câu II. (3,0 điểm)

Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng:

Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.

(Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.35)


II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó (câu III.a hoặc III.b)


Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm viết:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa..." mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu vơi miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thànhtên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó...

(Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 118)

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên.




Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Anh/ chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo:

Tây Ban Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lor-ca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy

(Ngữ văn 12 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.135-136)


--------------------------------------------------------
(Theo tài liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, NXB Giáo dục năm 2009)