Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Đất Nước-NKĐ"

Đề và gợi ý làm bài đề thi cao đẳng 2012 : Môn Văn

By Anonymous →

ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG NĂM 2012
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C, D

I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục điều gì sau khi cho chữ? Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa như thế nào?
Câu 2 (3,0 điểm)
Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp.”
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị về ý kiến trên.

II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu của phần riêng (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm). Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm :
                        Nhưng em biết không
                        Có biết bao người con gái, con trai
                        Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
                        Họ đã sống và chết
                        Giản dị và bình tâm
                        Không ai nhớ mặt đặt tên
                        Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
                        Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
                        Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
                        Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
                        Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
                        Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
                        Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
                        Có nội thù thì vùng lên đánh bại
                        Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 121)

Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm).
 Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương của nhà văn Nguyễn Minh Châu đối với con người.
Anh/chị hãy phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục, 2009) để làm sáng tỏ nhận định trên.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1. Trong đoạn kết truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn Cao đã khuyên viên quản ngục : Tìm về nhà quê mà ở; thoát khỏi cái nghề này đi; rồi hãy nghĩ đến việc chơi chữ (nếu không) khó giữ thiên lương lành vững, nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
            Câu nói “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” của viên quản ngục có ý nghĩa thể hiện thái độ và đặc điểm con người của viên quản ngục:
            - Viên quản ngục đồng tình với lời khuyên Huấn Cao : muốn chơi chữ (thưởng thức giá trị cao quý của cái đẹp) thì phải biết giữ thiên lương trong sạch (lương tâm, phẩm giá bản thân cao đẹp), cuộc sống xứng đáng (không nhem nhuốc). Muốn vậy, phải biết từ bỏ nơi sống, việc làm không tốt.
            - Viên quản ngục thể hiện thái độ khiêm tốn tự hạ mình. Ông tự nhận mình là “kẻ mê muội”.
            - Viên quản ngục tỏ thái độ trân trọng, tôn vinh, ngưỡng mộ đối với Huấn Cao. Ông xem Huấn Cao là người sáng suốt đã khai sáng cho ông là “kẻ mê muội” được nhìn thấy chân lý mà ông xin “bái lĩnh” (lạy mà nhận lấy).
            Chính vì vậy, trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã đánh giá viên quản ngục là một “thanh âm trong trẻo giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
Câu 2. Thí sinh cần đáp ứng đúng các yêu cầu cơ bản của đề bài: Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”.
Thí sinh có thể trình bày nội dung theo những cách thức khác nhau. Sau đây là một cách làm cụ thể :
- Giới thiệu vấn đề: có ai đó đã nói rằng : “điều quan trọng nhất của con người là chọn cho mình một nghề để mưu sinh và sống với nó đến cuối đời”. Tuy nhiên, có nhiều người đã chọn nghề theo xu hướng của dư luận. Việc chọn lầm nghề để lại những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Vì vậy đã có ý kiến cho rằng “Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp”. Sau đây chúng ta thử phân tích và bàn luận về ý kiến trên.
- Giải thích :
+ Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, làm theo sự phân công lao động của xã hội.
+ Phân công xã hội ngày càng nhiều, càng sâu nên xã hội có nhiều ngành nghề và giữ vị trí khác nhau trong xã hội.
+ Xã hội thường xuyên phát triển; có nghề nghiệp mới phát sinh nhưng cũng có những nghề nghiệp phải bị tàn lụi. Do đó có nghề dễ mang lại sự thành công (danh tiếng, tiền của, địa vị…) nhưng cũng có nghề không được như vậy. Cho nên dẫn đến sự tồn tại trong xã hội quan niệm về sự cao quý, sang hèn, tốt xấu… trong nghề nghiệp.
- Bàn luận:
+ Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người
* Mỗi nghề đều có đặc điểm, vị trí riêng trong cuộc sống xã hội.
* Nghề nghiệp nảy sinh từ nhu cầu xã hội, do đó mọi nghề đều cần thiết cho cuộc sống, vì thế mỗi nghề đều có vai trò không thể thiếu được trong đời sống xã hội, do đó nghề chân chính nào cũng đều cao quý cả.
* Tuy nhiên do đặc trưng riêng của một số ngành nghề, do ý nghĩa đặc biệt của nó đối với đời sống, một số ngành nghề được đặc biệt biểu dương: nghề dạy học, nghề thầy thuốc…
+ Mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp
* Con người là chủ thể của hoạt động nghề nghiệp, có tính chất quyết định đối với giá trị của hoạt động nghề nghiệp.
* Con người có giá trị tự thân, chịu ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh. Vì vậy có kẻ tốt, người xấu, chính vì thế điều này tạo nên giá trị của nghề nghiệp.
* Trong những ngành nghề được biểu dương đặc biệt vẫn có những “con sâu làm rầu nồi canh”. Trong những ngành nghề do bị thành kiến mà bị coi thường vẫn có những con người cao quý, có cách hành xử được mọi người ngưỡng mộ, ca ngợi.
* Làm rõ tại sao con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp (dẫn chứng). Chính tư cách và đức hạnh sáng ngời của con người làm cho người khác phải tôn trọng nghề nghiệp của họ.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần nhận thức: không nên có tư tưởng phân biệt nghề sang trọng, cao quý và nghề thấp hèn. Cần phê phán quan niệm phân biệt này vì nó không đúng đắn, nó tồn tại trong xã hội phong kiến ngày xưa và không nên tiếp tục trong cuộc sống ngày nay.
+ Cần thấy những việc làm không chính đáng: ví dụ  như trộm cướp, gian dối… để kiếm sống không phải là nghề nghiệp chân chính như chúng ta đang bàn.
+ Cần thấy giá trị đúng đắn của nghề nghiệp; nghề nghiệp chân chính nào cũng có giá trị và đều đáng được trân trọng. “Giá trị của một con người là lợi ích của họ mang lại cho người khác chứ không phải là nghề nghiệp của họ”.
+ Cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề. Không nên chạy theo quan điểm hời hợt (sang hèn…) về nghề nghiệp của một số người. Cần chọn nghề phù hợp với năng lực, với ước mơ, hoàn cảnh của bản thân, nhu cầu và sự phát triển của xã hội.
+ Với nghề nghiệp cần “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, chuyên tâm rèn luyện tay nghề, giữ gìn lương tâm nghề nghiệp, trao dồi đạo đức để làm hiển vinh nghề nghiệp, giá trị bản thân.
            - Tổng kết : “Không phải nghề nghiệp mang đến sự cao quý cho con người mà chính con người mang đến sự cao quý cho nghề nghiệp” là một ý kiến đúng đắn, nó là một lời khuyên, một lời nhắc nhở đối với mọi người nhất là đối với thanh niên đang đứng trước ngưỡng cửa lựa chọn nghề nghiệp.
Câu 3.a.
I. GIỚI THIỆU
-  Đất Nước trích  từ “Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị - Thiên - một điểm nóng - trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân.
- Đoạn thơ sau thể hiện quan niệm lớn của nhà thơ về “Đất nước này là Đất Nước của nhân dân”
(Trích đoạn thơ)
II. NỘI DUNG
(Thí sinh có thể trình bày nhiều cách nhưng đảm bảo những nội dung cơ  bản sau đây)
  1. Giới thiệu chung
- Bài “Đất nước” là chương V của trường ca này. Tác giả đã sử dụng một cách sáng tạo các chất liệu - thi liệu từ tục ngữ, ca dao dân ca, từ truyền thuyết cổ tích đến phong tục, ngôn ngữ… của nền văn hoá dân tộc để khơi nguồn cảm hứng về Đất nước, một Đất nước có nguồn gốc lâu đời, một Đất nước của Nhân dân vĩnh hằng muôn thuở.
  1. Xác định vị trí và nội dung đoạn trích
-         Vị trí : từ câu 66 đến câu 81.
-         Nội dung: Thể hiện tư tưởng chủ đạo “Đất Nước của Nhân dân”
  1. Những hy sinh thầm lặng của cha ông ta trong suốt lịch sử đất nước
-         Tâm hồn giản dị.
-         Là những con người bình thường “vô danh” mà tâm hồn cao đẹp
-         Hy sinh vì Đất Nước một cách bình thản và đầy trách nhiệm.
  1. Truyền lửa sống và giữ hồn dân tộc
- Ý thức dân tộc “truyền giọng điệu mình” cho thế hệ sau.
-  Mang theo hồn Đất Nước “ tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân”
- Lao động với tất cả tấm lòng  yêu thương vì con cháu “người sau trồng cây hái quả”.
- Suốt hàng ngàn năm lịch sử, chính Nhân Dân là những người sáng tạo nên Đất Nước này: “Không ai nhớ mà đặt tên - Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Hạt lúa do bàn tay dân ta trồng; lấy hòn than, con cúi để giữ lửa; truyền cho con cháu tiếng nói ông cha; đắp đập be bờ để làm ra cây trái. Họ “đã làm” và “đã giữ”, “họ truyền”, “họ đắp đập be bờ”... và “bốn nghìn lớp người” đã làm nên tất cả:
Ngôn ngữ thơ (giữ và truyền, gánh, đắp đập be bờ) được nhấn đi nhấn lại để tô đậm truyền thống cần cù lao động của Nhân Dân - chủ nhân của Đất Nước.
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”.
- Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là sự ngợi ca mồ hôi và xương máu của nhân dân. “Không có mồ hôi và máu thì các dân tộc không thể có lịch sử” (Ăngghen). Chính vì thế mà nhà thơ trẻ này đã viết:
“Để Đất Nước là Đất Nước Nhân dân,
Một câu thơ hai lần nhắc lại từ “Đất Nước”, hai lần láy lại từ “Nhân dân”, biểu lộ biết bao tình thương mến!.
C. Nhận định chung                                                                                                                 
- Ở phần sau, tất cả đều quy chiếu về tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. Đó là một chân lí cao cả mà giản dị biết bao ! Một chân lí đã được nhận thức trong suốt quá trình phát triển dài lâu của lịch sử đất nước, để rồi nó cất lên thành lời tuyên ngôn đầy nhiệt huyết và vang động sâu xa.
- Đất Nước” với những câu thơ mở rộng đậm đặc chất văn xuôi. Yếu tố chính luận và chất trữ tình, chất cảm xúc hòa quyện, làm cho chất thơ dào dạt, ý tưởng sâu sắc, mới mẻ.
II. KẾT LUẬN
- Một thể thơ tự do đầy phóng khoáng với việc tiếp thu các chất liệu dân gian hết sức độc đáo và tài hoa của nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hình thức trữ tình – chính trị với các chất liệu từ ca dao, cổ tích, huyền thoại,…
- Thể hiện tư tưởng cốt lõi và tiến bộ.
Câu 3.b. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật các nội dung cơ bản sau:
            I. Mở bài:
            - Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu.
            - Giới thiệu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
            - Giới thiệu luận đề: “Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, tác giả thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương đối với con người”.
            II. Thân bài:
            1. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài:
            a/ Người đàn bà hàng chài là một người phụ nữ lao động có bề ngoài lam lũ, xấu xí; cuộc sống vất vả, nghèo đói nhưng lại là một con người sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời:
- Ngoại hình: bà ta có một thân hình “cao lớn, thô kệch”, mặt rỗ, khuôn mặt mệt mỏi.
- Hoàn cảnh: làm nghề chài lưới, thuyền nhỏ, con đông; việc kiếm sống khó khăn, “có lúc trời làm động biển, cả nhà phải ăn xương rồng luộc chấm muối” hàng tháng.
- Tâm hồn, tính cách:
+ Nhẫn nhục, cam chịu:
. Thầm lặng chịu đựng những trận đòn dữ dội của chồng “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” như một cách để chia sẻ sự thay đổi tâm tính của chồng.
. Khi đến tòa án huyện gặp chánh án Đẩu và được khuyên li hôn, bà ta đã khiến cho Đẩu và Phùng ngạc nhiên với hành động “chắp tay vái lia lịa” và nói “Quý tòa bắt tội con cũng được, bỏ tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.
+ Thấu hiểu lẽ đời, sâu sắc:
. Thể hiện qua sự thay đổi thái độ của bà ta với Đẩu và Phùng: từ chỗ xưng hô “quý tòa – con” chuyển sang “các chú – chị”
. Qua câu chuyện cuộc đời của người phụ nữ không có nhan sắc “cả phố không ai lấy”; được anh con trai hàng chài “cục tính nhưng hiền lành” lấy làm vợ, ta thấy dường như trong tình cảm của bà giành cho người chồng vũ phu có cả sự biết ơn.
. Bà ta đã dùng những lý lẽ sâu sắc để giải thích cho thái độ cam chịu: làm nghề hàng chài trên thuyền cần phải có “một người đàn ông để chèo chống khi phong ba bão táp”; cần có một người chồng chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và lớn lên trong sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ.
. Bà ta hiểu sâu sắc hành động vũ phu của người chồng chẳng qua chỉ vì gia đình nghèo khổ, con cái nheo nhóc, không gian sống ngột ngạt “thuyền nào cũng trên dưới chục đứa con”.
b/ Người đàn bà hàng chài còn là một người phụ nữ giàu đức hy sinh:
- Trong khổ đau triền miên, bà ta vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
- Niềm hạnh phúc lớn nhất của bà là những lúc “ngồi nhìn đàn con tôi, chúng nó được ăn no”.
- Đó là những lý do giải thích tại sao người đàn bà ấy sống nhẫn nhục, chịu đựng, không muốn ly hôn. Ẩn đằng sau sự nhẫn nhục ấy là một bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng hy sinh rất đáng trân trọng.
2.Chứng minh Nguyễn Minh Châu đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương đối với con người:
- Nguyễn Minh Châu được xem là nhà văn đi tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Từ những tác phẩm xuất sắc về đề tài chiến tranh, ông chuyển sang cảm hứng thế sự đời tư với ngòi bút đậm màu sắc đạo đức và triết lý nhân sinh. “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện xuất sắc phong cách tự sự - triết lý của ông.
- Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, ông đã chọn được một nhan đề có ý nghĩa sâu sắc, khái quát được mối quan hệ giữa nghệ thuật với đời sống và gởi gắm một thông điệp quan trọng: “Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống nhưng cuộc sống không phải bao giờ cũng là nghệ thuật”. Từ đó, nhà văn muốn nói rằng: không được có cái nhìn một chiều, hời hợt khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật cũng như khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người.
- Tác giả đã chọn được một tình huống truyện độc đáo, mang tính phát hiện và vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài là phát hiện mang chất nhân văn nhất.
- Nghệ thuật đối lập tương phản đã được nhà văn sử dụng như một biện pháp nghệ thuật cơ bản của tác phẩm. Đó là đối lập giữa nghệ thuật và cuộc sống; giữa bên ngoài và bên trong; kể cả tính cách nhân vật cũng được phát hiện trên các mặt đối lập.
- Từ tất cả những điều đã nói ở trên, có thể khẳng định “Chiếc thuyền ngoài xa” đã thể hiện cái nhìn thấu hiểu và trĩu nặng tình thương của Nguyễn Minh Châu đối với con người. Chính điều đó đã làm nên một tác phẩm vừa có giá trị hiện thực đặc sắc vừa có giá trị nhân đạo cao cả.
III. Kết luận:
- Khẳng định tác phẩm đã thể hiện rõ nét tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả dành cho những số phận bất hạnh, lam lũ.
- Tác phẩm đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc với những triết lý nhân sinh độc đáo.
TS. Đinh Phan Cẩm Vân
(Trung tâm LTĐH Vĩnh Viễn – TP.HCM)

HSG: Quảng Bình 2008

By Anonymous →
Đề thi học sinh giỏi 11 & 12(2008-2009)
****Sở giáo dục đào tạo Quảng Bình****
Môn thi: Ngữ Văn.



*Vòng1:

Câu 1: (2 điểm)

Nét tài hoa của nhà thơ Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô ta-mình trong Việt Bắc.
Câu 2: (2 điểm) Tìm hiểu ý nghĩa của 2 câu thơ sau:

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

( tiếng hát còn tàu - Chế Lan Viên )

Câu 3: (6 điểm) Bàn về ngôn ngữ trong thơ, Nguyễn Đình Thi viết:

“điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là sức gợi ấy”
(mấy ý nghĩ về thơ-Ngữ văn 12 nâng cao tập 1, trang 52 , NXB GD 2008)

Dựa vào một số bài thơ đã học, anh chị hãy nêu nhận xét về ý kiến trên.


*Vòng 2:
Câu 1: (4 điểm) Từ ý thơ của Tố Hữu:

“Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

Anh (chị) hãy viết bài văn ngắn bàn về lý tưởng sống của thanh niên trong thời đại hiện nay.

Câu 2: (6 điểm)

Tương đồng và khác biệt trong đoạn trích Đất nước(Trường ca mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm và bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi.

TS ĐH 2011: Đề thi - Gợi ý Môn Văn Khối C

By Anonymous →

ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm)
Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Việc trích dẫn đó có ý nghĩa gì?
Câu II. (3,0 điểm)
Biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân.
Câu III.b. Theo Chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
            Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
            Cặp vợ chồng yêu thương nhau góp nên hòn Trống Mái
            Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
            Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
            Những con rồng năm im góp dòng sông xanh thẳm
            Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
            Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
            Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
            Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
            Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
            Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
            Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
                        (Đất Nước – Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm)
                        Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 117 – 118)
            Phân tích đoạn thơ trên để làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.
------------------------------
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần nêu được những nội dung cơ bản sau :
            a. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn :
            - Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776.
            - Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.
            b. Ý nghĩa của việc trích dẫn:
            - Tác giả tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là “một lẽ phải không ai chối cãi được”, đồng thời tạo tiền đề cho lập luận nêu ở phần sau.
            - Tác giả thể hiện thái độ trân trọng tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của hai nước Pháp và Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.
            - Tác giả muốn từ vấn đề nhân quyền để “suy rộng ra” và phát triển thành quyền dân tộc. Đây là đóng góp lớn về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
            - Tác giả cũng chỉ ra cho thực dân Pháp thấy rõ: nếu chúng âm mưu tái chiếm nước ta là xúc phạm đến nguyên lý về quyền độc lập tự do mà chính tổ tiên của chúng đã nêu ra trước kia. Đây là lối tranh luận “lấy gậy ông đập lưng ông” thể hiện thái độ vừa kiên quyết vừa khôn khéo của tác giả. Mặt khác, khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, tác giả còn bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân tộc.
Câu II: Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi: Viết bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.
            Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :
            - Giới thiệu ý kiến của đề bài: biết tự hào về bản thân là cần thiết nhưng xấu hổ còn quan trọng hơn.
            - Giải thích :
            + Tự hào : lấy làm hài lòng, hãnh diện về cái tốt đẹp mà mình có.
            + Xấu hổ : cảm thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc kém cỏi trước người khác.
            + Ý kiến : thể hiện quan điểm của người phát biểu về quan hệ của tự hào với xấu hổ : tự hào thì cần thiết, xấu hổ quan trọng hơn.
            - Phân tích, chứng minh :
            + Tự hào là cần thiết :
            × Người tự hào thường là người hiểu rõ bản thân, nhất là sở trường, các tốt đẹp của bản thân. Do đó cũng dễ là người có thái độ tự tin.
            × Tự hào thường mang lại những cảm xúc tích cực. Nó giúp người ta dễ phấn khởi trong hành động. Do đó cuộc sống dễ đạt được những thành công.
            + Biết xấu hổ còn quan trọng hơn :
            × Biết xấu hổ, người ta dễ tránh những lỗi lầm sai trái.
            × Biết xấu hổ, người ta dễ nổ lực vươn lên để khắc phục những kém cỏi của bản thân.
            × Biết xấu hổ, người ta dễ có lòng khiêm tốn, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm.
            × Biết xấu hổ là một trong những biểu hiện của lòng tự trọng, của nhận thức về phẩm giá con người.
            × Biết xấu hổ, người ta cũng dễ biết kiềm chế bản thân trước các tình huống.
            - Phê phán : Trong thực tế, có những người không biết tự hào, cũng chẳng tự trọng, vô cảm với mình, với người. Nguyên nhân thường do thiếu nhận thức, thiếu kỹ năng sống.
            - Bình luận : Tự hào, tự trọng (mà biết xấu hổ là một biểu hiện của nó) là những phẩm chất đáng quý mà mỗi người cần có, trong đó cần nhận thức tự hào là cần thiết nhưng tự trọng thì quan trọng hơn.
            - Làm sao để có lòng tự hào và tự trọng :
            + Cần có hiểu biết và ý thức về giá trị con người và cuộc sống.
            + Cần có hiểu biết về ý nghĩa quan trọng của phẩm giá cá nhân.
            + Cần nỗ lực phấn đấu rèn luyện trau dồi những phẩm chất và kỹ năng sống cần thiết để sống tốt.
Câu III.a:
1.      Yêu cầu về kĩ năng:
_ Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận tác phẩm về nội dung, nghệ thuật
_ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ
2.      Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu được những ý chính sau:
1.      Tác giả, tác phẩm:
-         Tác giả: Nguyễn Tuân là nhà văn mang phong cách tài hoa, uyên bác
-         Tác phẩm: “Chữ người tử tù” rút ra từ tập “Vang bóng một thời” (1940), không chỉ thành công về nội dung mà còn có những nghệ thuật đặc sắc, nhất là tạo tình huống truyện độc đáo.
2.      Phân tích cụ thể:
-         Tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm tự sự, trong “Chữ người tử tù”
+ Sự gặp gỡ giữa những tâm hồn yêu cái đẹp trong hoàn cảnh éo le, đầy kịch tính.
+ Quản ngục, thơ lại là người có quyền trong nhà tù – Huấn Cao, phạm nhân đều hướng về cái đẹp của nghệ thuật thư pháp
-         Khai thác tình huống truyện xoay quanh hai tuyến nhân vật:
+ Huấn Cao:
·        Tài viết chữ đẹp hấp dẫn quản ngục, ông xem việc có được chữ của ông Huấn là có báu vật trên đời
·        Tâm: yêu nước, hiên ngang, bất khuất của người có tài, “biệt nhỡn liên tài” để tìm người giữ chữ cho đời (chọn dẫn chứng và phân tích để làm bật lên những ý trên)
+ Quản ngục, thơ lại:
·        Hai nhân vật này hợp lại để xin và giữ chữ bằng cái tâm hướng về cái đẹp
·        Yêu cái đẹp đến độ dám chơi chữ với tử tù (chọn dẫn chứng và phân tích)
+ Và kết thúc của tình huống truyện là “cảnh cho chữ lạ lùng chưa từng có”:
·        Cho chữ ở nhà ngục tử tù bật lên sự tồn tại vĩnh hằng của thư pháp ngay chốn tử tù
·        Sự thay bậc đổi ngôi: người tù thì đứng, dù cổ mang gông, chân vướng xiềng vẫn ung dung cho chữ, còn thơ lại, quản ngục run run, khúm núm.
·        Nhà tù tối tăm, hôi hám, dơ bẩn nhưng sáng rực với bó đuốc soi rọi trên ba cái đầu chụm vào nhau cùng hướng về tấm lụa bạch và mùi thơm của thoi mực.
·        Sức mạnh của thư pháp cảm hứng kẻ lầm đường lạc lối về với nẻo chính đường ngay (minh họa và phân tích)
-         Cảm nhận chung: Nghệ thuật tạo tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” làm bật lên tư tưởng, nội dung của tác phẩm “Chữ người tử tù”.
3.      Đánh giá tác giả, nghệ thuật tạo tình huống truyện của tác phẩm.
Câu III.b.
1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích :
     - Trường ca Mặt đường khát vọng viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm ở miền Nam: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn thơ trích thuộc phần đầu của chương V.
            - Tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” được thể hiện tập trung qua đoạn thơ :
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.”
 chi phối cách cảm nhận của nhà thơ về các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá … của đất nước.
2) Phân tích đoạn thơ :
a. Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh. Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân, được cảm thụ qua tâm hồn nhân dân. Chú ý khả năng gợi cảm nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng của các hình ảnh, cảnh vật: tình nghĩa thuỷ chung, thắm thiết (hình ảnh núi Vọng Phu, hòn Trống Mái); sức mạnh bất khuất (chuyện Thánh Gióng); cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học (cách cảm nhận về núi Bút non Nghiên); Đất Nước tươi đẹp (cách nhìn dân dã về núi Con Cóc, Con Gà, về dòng sông Cửu Long gợi dáng những con rồng)vv… Đất Nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng.
            b. Bốn câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hoá thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, miền đất này.
    c. Trong đoạn thơ, tác giả đã sử dụng rất nhiều địa danh quen thuộc, những chất liệu văn hoá dân gian để nói về Đất Nước. Theo Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được  hình thành từ công sức của nhân dân, của những con người lao động bình dị. Đây cũng là biểu hiện chiều sâu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân” trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.
3) Đánh giá chung :
     - Đoạn thơ đã làm rõ những cảm nhận riêng, độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: không thiêng liêng hóa Đất Nước như trong thơ xưa, mà bằng những hình ảnh thơ rất cụ thể, đời thường, thấm đẫm chất liệu văn hóa dân gian nên Đất Nước gần gũi, gắn liền với mọi con người Việt Nam hôm nay.
     - Ra đời trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả nước đang ác liệt, bài thơ có tác dụng như một sự thức tỉnh đối với tuổi trẻ các thành thị miền Nam về tình yêu quê hương đất nước, ý chí đấu tranh bảo vệ độc lập tự do.
Nguyễn Hữu Dương, Hà Phương Minh
(TT Luyện thi Đại học Vĩnh Viễn – TP.HCM)
           -------------------------

Thi cao đẳng Ngữ Văn 2010

By Anonymous →
ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG NĂM 2010
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C, D
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm)
Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
Câu II (3,0 điểm)
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về mối quan hệ giữa tài và đức.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trinh Chuẩn (5.0 điểm)
Trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) Nguyễn Khoa Điềm viết:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẳng
Không gian mênh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.118 – 119)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên để làm rõ nét mới lạ, sâu sắc trong cách cảm nhận của nhà thơ về đất nước.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Anh/chị hãy phân tích những nét đẹp trong nhân cách của nhân vật bà Hiền (Một người Hà Nội – Nguyễn Khải) để làm rõ lời bình luận của người kể chuyện:
“Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”
(Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.82)

-------------------------------------------
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
ĐỀ THI TUYỂN SINH CAO ĐẲNG NĂM 2010
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN; Khối: C
(Đáp án - Thang điểm có 03 trang)
Câu Ý
Nội dung
Điểm
I
Cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
2,0
- Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát khao giao
cảm.
- Một cái tôi tràn đầy cảm xúc lãng mạn.
- Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ, nhân sinh.
- Một cái tôi độc đáo thể hiện qua hình thức nghệ thuật: thể thơ, giọng điệu, hình
ảnh, từ ngữ.
0,5
0,5
0,5
0,5
II
Về mối quan hệ giữa tài và đức
3,0
1. Giải thích vấn đề (0,5 điểm)
- Tài là nói tới trình độ, năng lực và khả năng sáng tạo của con người.
- Đức là nói tới phẩm chất và nhân cách của con người.
0,25
0,25
2. Bàn luận vấn đề (2,0 điểm)
- Tài và đức là hai mặt quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách của con
người.
- Nếu chỉ chú trọng đến tài mà không quan tâm đến đức sẽ dễ dẫn đến sự lệch lạc
trong suy nghĩ và hành động, thiếu sự phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện bản thân;
thậm chí quá coi trọng tài mà không chú ý đến đức sẽ dẫn đến những suy nghĩ và
hành động gây tác hại cho bản thân, cộng đồng và xã hội.
- Nếu chỉ lo phấn đấu, tu dưỡng đức mà không quan tâm đến việc nâng cao trình
độ, năng lực và khả năng sáng tạo của bản thân thì cũng không thể có nhiều đóng
góp tốt cho cộng đồng và xã hội.
- Giải quyết tốt mối quan hệ hài hoà, gắn bó giữa tài và đức sẽ giúp con người
phát triển toàn diện và có nhiều đóng góp hữu ích cho xã hội.
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
Phải biết trau dồi, rèn luyện bản thân cả về trình độ, năng lực và phẩm chất.

Câu Ý
Nội dung
Điểm
III.a
Phân tích đoạn thơ trong phần trích Đất Nước
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích (0,5 điểm)
- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước,
Mặt đường khát vọng (1971) là bản trường ca xuất sắc viết về sự thức tỉnh của
tuổi trẻ miền Nam với đất nước, nhân dân.
- Đoạn thơ thể hiện cảm nhận mới mẻ, sâu sắc của nhà thơ về đất nước.
0,5
2. Cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về đất nước (4,0 điểm)
a. Sự mới mẻ, sâu sắc về nội dung (3,0 điểm)
- Cách nhìn về đất nước cụ thể mà khái quát, bình dị mà lớn lao.
+ Đất nước được hình thành từ những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc
sống của mỗi người.
+ Đất nước là sự hoà quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân
tộc.
- Hình tượng đất nước được mở ra ở bề rộng không gian, chiều dài thời gian và ở
chiều sâu văn hoá.
+ Bề rộng không gian gần gũi thân thương với mỗi người, không gian hò hẹn
nhớ nhung của tình yêu đôi lứa, không gian mênh mông giàu đẹp của lãnh thổ,
không gian sinh tồn thiêng liêng của cộng đồng dân tộc đoàn kết.
+ Chiều dài thời gian gắn với chiều dài lịch sử, nhân dân bền bỉ kiên cường xây
dựng và bảo vệ đất nước.
+ Chiều sâu văn hoá của một dân tộc có truyền thống dân gian lâu đời.
b. Sự mới mẻ, sâu sắc về nghệ thuật (1,0 điểm)
- Cách thể hiện đậm đà màu sắc dân gian: vận dụng phong phú chất liệu văn hoá
và văn học dân gian; Đất Nước của nhân dân trở thành hình tượng trung tâm,
gần gũi, giàu sức gợi cảm.
- Thể thơ tự do, biến đổi linh hoạt về nhịp điệu; có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
chất chính luận và trữ tình; từ Đất Nước viết hoa, lúc được tách ra để khơi sâu,
lúc hợp lại tạo sự thống nhất gắn bó.
3. Đánh giá chung (0,5 điểm)
Đoạn thơ giàu chất suy tưởng và cảm xúc; thể hiện tình yêu, niềm tự hào về đất
nước và cách nhìn sâu sắc, mới mẻ về Đất Nước của nhân dân. Qua đó nâng cao
tình yêu và ý thức trách nhiệm với đất nước của mỗi người.
0,5
III.b
Phân tích những nét đẹp trong nhân cách của nhân vật bà Hiền
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Nguyễn Khải là một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ
sau Cách mạng tháng Tám 1945. Ở giai đoạn đổi mới, ông đặc biệt quan tâm đến
________________________________________
Page 3
3
Câu Ý
Nội dung
Điểm
số phận cá nhân trong cuộc sống đời thường, tiêu biểu là truyện ngắn Một người
Hà Nội (rút từ Hà Nội trong mắt tôi -1995).
- Lời bình luận của người kể chuyện thể hiện những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp
nhân cách của nhân vật bà Hiền.
0,5
2. Phân tích nét đẹp trong nhân cách của nhân vật Bà Hiền (4,0 điểm)
- Bà Hiền là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, một người gốc Hà Nội: có bản
lĩnh, trung thực, biết nhìn xa trông rộng. Cái "chuẩn" của bà Hiền là lòng tự
trọng (với bà có lòng tự trọng sẽ có lòng yêu nước, có ý thức cộng đồng).
- Là người lịch lãm, ung dung và sâu sắc, khiêm tốn và rộng lượng (cách trang trí
phòng khách, thái độ trước những biến động, những lời nói về quy luật tự
nhiên...).
- Là người yêu Hà Nội, luôn tin tưởng và tự hào về Hà Nội; có ý thức lưu giữ
hồn thiêng văn hoá của đất kinh kì; với bà, Hà Nội thời nào nó cũng đẹp.
- Tác giả đặt nhân vật dưới nhiều cách nhìn; kể bằng đối thoại, bằng phân tích,
bình luận tạo sự gần gũi với độc giả; giọng trần thuật đậm chất chiêm nghiệm,
triết lí.
- Nhân vật bà Hiền chỉ là một người bình thường, nhưng như lời bình của người
kể chuyện, đó là một hạt bụi vàng, mang cốt cách và bản lĩnh văn hoá của người
Hà Nội thanh lịch, hào hoa. Cùng với bà Hiền, những con người như: Dũng, em
Dũng, Tuất, mẹ Tuất ... là kết tinh những phẩm giá của người Hà Nội, góp phần
làm cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng.
3 Đánh giá chung (0,5 điểm)
- Qua nhân vật bà Hiền, tác giả ca ngợi vẻ đẹp và bản lĩnh văn hoá của người Hà
Nội, đồng thời khẳng định sự tin tưởng những hạt bụi vàng của Hà Nội sẽ mãi
trường tồn theo thời gian.
- Mỗi người cần có ý thức giữ gìn, phát huy những nét đẹp đó để cho đất kinh kì,
cho đất nước chói sáng những ánh vàng.
0,5
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những
yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể
từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm kèm theo.
- Hết -

Đề thi thử TN THPT 2010 (Sưu tầm)

By Anonymous →
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT (2009-2010)
. Môn Ngữ Văn –THPT
Đề thi chính thức Thời gian làm bài 150 phút không kể thời gian giao đề .
-----------------------------------
I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH (5 ĐIỂM )

Câu 1 :(2 điểm ) ``Hai con người côi cút ,hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những nơi xa lạ ....Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước ?Thiết nghĩ rằng con người Nga đó ,con người có ý chí kiên cường ,sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố ,chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đối đầu với mọi thử thách ,sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường nếu Tổ quốc kêu gọi .`` (Phần trích Số phận con người ,Sô-lô-khốp,Ngữ văn 12,tập 2,trang 123 ,NSB Gáo dục 2008)
Theo anh chị qua đoạn văn này ,SÔ-LÔ-KHỐP có suy nghĩ gì về số phận con người ?

Câu 2 :(3 điểm) Viết 1 đoạn văn ngắn (Không quá 400 từ )phát biểu ý kiến của anh chị về lối sống thờ ơ,vô cảm cảu không ít bạn trẻ ngày nay .

II .PHẦN RIÊNG (5 ĐIỂM )
(THÍ SINH ĐƯỢC LÀM 1TRONG 2 CÂU (3a hoặc 3b )
Câu 3 a .Chương trình chuẩn (5 điểm )
Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau :
```..... Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn ,to lớn
Mai này con chúng ta lớn lên
Con chúng ta sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm lên Đất Nước muôn đời .
..........................................`` (Đất nước ,Phần trích trường ca Mặt đường và khát vọng ,Nguyễn Khoa Điềm ,Ngữ Văn 12 ,Tập 1 ,Trang 119 ,NXB Giáo dục 2008)

Câu 3 b :Chương trình nâng cao (5 điểm ) Cái nhìn và cách ứng xử với xã hội ,với thời cuộc trong thời kì đổi mới của nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn ``Một người Hà Nội `` của Nguyễn Khải (Trích trong Ngữ Văn 12 nâng cao ,Tập 2 NXB Giáo dục 2009 )
-------------------------Hết ---------------------------------

Đề-Đáp án thi thử TN THPT Tp.HCM 2010

By Anonymous →
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi có 2 trang) ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
NĂM HỌC 2009 - 2010
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút
(không kể thời gian giao đề)
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Ý nghĩa nhan đề vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.
Câu 2 (3 điểm)
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về mục đích của việc học: “Học để chung sống”.
II. PHẦN RIÊNG (5 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (Câu 3a hoặc Câu 3b)
Câu 3a (5 điểm): Theo chương trình Chuẩn
Phân tích hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
Câu 3b (5 điểm): Theo chương trình Nâng cao
Cảm nhận của anh (chị) về tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” trong đoạn thơ sau:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

(Trích “Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm)
… … … .HẾT. … … …
Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KÌ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2009 - 2010
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. .HƯỚNG DẪN CHUNG Đề bài gồm 3 câu, theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài nghị luận xã hội; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt. Những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 2 và câu 3 là bài làm văn kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.
 Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của HS để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
 Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.
II. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
Đáp án Điểm
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH 5,0
Câu 1 Ý nghĩa nhan đề vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. 2,0
- Nhan đề cho thấy tình cảnh trớ trêu, mâu thuẫn, đau khổ của nhân vật Trương Ba khi tâm hồn thanh cao, nhân hậu phải ẩn trong thân xác hàng thịt thô lỗ, phàm tục. 1,0
- Đặt ra vấn đề: con người phải được sống là mình với những phẩm chất tốt đẹp, sống trong sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. 1,0
Câu 2
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về mục đích của việc học: “Học để chung sống”. 3,0
a. Yêu cầu về kĩ năng
 Nắm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội.
 Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
 Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, bình luận…).
 Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
 Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; trình bày bài rõ ràng.

b. Yêu cầu về kiến thức
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận. 0,25
- “Học để chung sống” là lĩnh hội, tích lũy kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm sống để có thể chung sống tốt đẹp, hài hòa với cộng đồng. 0,75
- Kiến thức, kĩ năng có được trong quá trình học tập giúp người học giao tiếp, ứng xử thân thiện, hài hòa, vui tươi với mọi người; có thể cùng lao động; có khả năng thích ứng với những đổi thay của cuộc sống …
- Lưu ý : HS cần có dẫn chứng để làm sáng tỏ ý. 1,0

- Bổ sung những giá trị tốt đẹp khác mà việc học đem lại; phê phán những người không học tập kiến thức, kĩ năng dẫn đến nhiều hạn chế trong cuộc sống. 0,5
- Luôn ý thức học tập kiến thức, kĩ năng sống để có thể chung sống tốt đẹp với mọi người. 0,5
I. PHẦN RIÊNG 5,0
a. Yêu cầu chung về kĩ năng
- Nắm phương pháp làm bài nghị luận văn học.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (chứng minh, bình luận, so sánh mở rộng vấn đề…). Đặc biệt, thí sinh phải nắm vững thao tác phân tích một nhân vật trong tác phẩm tự sự và phân tích một đoạn thơ, bài thơ.
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày bài rõ ràng.
b. Yêu cầu về nội dung
Câu 3a. Theo chương trình Chuẩn
Phân tích hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. 5,0
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận. 0,5
- Công việc lái đò trên sông Đà rất gian nan, cực nhọc, hiểm nguy. 0,5
- Ông lái đò là người dũng cảm, ngoan cường. 1,0
- Ông hiện lên như vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm sông nước, có tài trí và ý chí cao. 1,0
- Ông lái đò có phong thái bình tĩnh, ung dung, tài hoa. 1,0
- Khái quát, đánh giá được những vấn đề (nội dung, nghệ thuật) đã bàn luận. 1,0
Lưu ý: Học sinh có thể triển khai luận điểm theo nhiều cách khác nhau. Giám khảo đánh giá mức điểm dựa trên kĩ năng làm bài và nội dung toàn bài của học sinh.
3b. Theo chương trình Nâng cao: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” trong đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm. 5,0
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận. 0,5
- Ở bình diện không gian địa lí, những cảnh quan thiên nhiên gắn liền với cuộc sống của nhân dân. Những cảnh ngộ, số phận, phẩm chất của con người Việt Nam đã làm nên những địa danh, thắng cảnh cho đất nước. Những cảnh ấy được tiếp nhận qua tâm hồn nhân dân. 1,5
- Theo thời gian lịch sử, những người dân cần cù lao động để xây dựng đất nước. Khi có ngoại xâm thì nhân dân anh dũng chiến đấu để bảo vệ đất nước, sẵn sàng hi sinh cho quê hương.
- Nhân dân là người làm nên đất nước. 2,0
- Khái quát, đánh giá những vấn đề (nội dung, nghệ thuật) đã bàn luận. 1,0
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.