Browsing "Older Posts"

Browsing Category "2010-2011"

Đề - Đáp án thi lại Văn 11 (2011-2012) tại HCM

By Anonymous →

1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KIỂM TRA LẠI NĂM HỌC 2011 – 2012
MÔN THI: NGỮ VĂN 11
Thời gian làm bài: 90 phút
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. HƯỚNG DẪN CHUNG
Đề bài gồm 3 câu : câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài Nghị luận xã hội;
câu 3 là bài Nghị luận văn học. Câu 2 và câu 3 kiểm tra sự hiểu biết về các vấn đề xã hội,
kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận.
Giám khảo cần nắm nội dung bài làm của học sinh để đánh giá tổng quát, tránh đếm ý
cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
Thí sinh có thể trình bày, triển khai ý theo nhiều cách khác nhau, nếu đáp ứng các yêu
cầu vẫn cho đủ điểm.
II. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM
ĐÁP ÁN
ĐIỂM
Câu 1
Cho biết chủ đề tư tưởng của truyện ngắn Người trong bao
A.P. Sê-khốp.
2,0
- Lên án, phê phán mạnh mẽ kiểu người trong bao, lối sống trong
bao tầm thường, hèn nhát, cá nhân, ích kỉ và hủ lậu.
- Bức thiết cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cuộc
sống, không thể sống trong bao mãi như thế được.
1,0
1,0
Câu 2
Viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý kiến: Tự ti và tự
phụ là hai thái độ trái ngược nhau nhưng đều ảnh hưởng không tốt
đến việc học.
3,0
a. Yêu cầu về kĩ năng
- Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận xã hội.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích,
chứng minh, bình luận,… ).
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ, ngữ
pháp; trình bày bài rõ ràng.
b. Yêu cầu về kiến thức
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận.
0,5
- Tự ti: tự cảm nhận, tự cho mình là hèn kém mà mất niềm tin vào
bản thân.
- Tự phụ: tự cho mình là tài giỏi hơn người mà coi thường mọi
người.
- Trình bày và lí giải biểu hiện cụ thể của thái độ tự ti và tự phụ nơi
học sinh: không tin vào khả năng của mình nên không dám phát biểu,
không dám làm bài,…; coi mình là tài giỏi nhất nên coi thường các bạn
trong lớp, không chịu học hỏi ai,…
2,0
- Tác hại:
+ Tự ti sẽ dẫn đến lối sống thu mình, không dám dấn thân, không
dám đương đầu với những kiến thức khó; không phát huy được khả
năng; mất niềm tin vào bản thân,…
+ Tự phụ sẽ sinh ra kiêu căng, phách lối, bạn bè xa lánh; đánh giá
sai về bản thân; làm mất đi khả năng học tập người khác; …
- Lưu ý: Học sinh cần nêu dẫn chứng cụ thể.
- Bài học nhận thức và hành động: đánh giá đúng bản thân để phát
huy mặt mạnh, hạn chế và khắc phục mặt yếu.
0,5
- Lưu ý: Nếu thí sinh có kĩ năng làm bài tốt nhưng chỉ đi sâu bàn
luận vào một vài khía cạnh và có suy nghĩ riêng, hợp lí thì vẫn đạt điểm
tối đa.
Câu 3
Cảm nhận về hai khổ thơ đầu trong bài thơ Tràng giang của
Huy Cận.
5,0
a. Yêu cầu về kĩ năng
- Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận văn học.
- Bố cục và hệ thống ý sáng rõ.
- Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận (phân tích, bình
luận, so sánh mở rộng vấn đề,… )
- Văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, có cảm xúc.
- Không mắc lỗi diễn đạt; không sai lỗi chính tả, dùng từ; trình bày
bài rõ ràng.
b. Yêu cầu về kiến thức
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
0,5
- Giới thiệu vài nét về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang.
- Cảm nhận về hai khổ thơ:
+ Nội dung: nỗi buồn cô đơn, nỗi sầu nhân thế của nhà thơ trước
cảnh thiên nhiên rộng lớn, khi nghĩ về sự nổi trôi vô định của kiếp
người giữa muôn ngả cuộc đời ...
+ Nghệ thuật: hai khổ thơ mang vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại, vừa
đậm chất Đường thi vừa mới mẻ, sáng tạo ...
3,5
- Đánh giá, khái quát về nội dung và nghệ thuật.
1,0
- Lưu ý: Học sinh có thể triển khai luận điểm theo nhiều cách khác
nhau. Giám khảo đánh giá mức điểm dựa trên kĩ năng làm bài và nội
dung toàn bài của học sinh.

HSG quốc gia 2011: Toàn bộ đề thi và đáp án chính thức của BGD

By Anonymous →
 Toàn bộ đề thi và đáp án chính thức của BGD năm học 2010-2011

 Nhấp vào line để tải về và giải  nén
https://skydrive.live.com/#cid=C2F72283D579A8D3&id=C2F72283D579A8D3!123&sc=documentshttps://skydrive.live.com/#cid=C2F72283D579A8D3&id=C2F72283D579A8D3!123&sc=documents

Đây là Đề thi và đáp án môn Ngữ Văn



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
LỚP 12 THPT NĂM 2011
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 11/1/2011
(Đề thi có 01 trang, gồm 02 câu)
Câu 1. (8,0 điểm)
Không nỗ lực khẳng định mình thì khó thành công, nhưng không tỉnh táo chế
ngự mình thì dễ vấp ngã.
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Câu 2. (12,0 điểm)
Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả
của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính.
Bằng việc phân tích một số nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác phẩm đã
học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
---------------------------- HẾT---------------------------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
Giám thị không giải thích gì thêm.


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA
LỚP 12 THPT NĂM 2011
ĐÁP ÁN ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN
Ngày thi: 11/01/2011
(Gồm 03 trang)
Câu 1. (8,0 điểm)
Thí sinh có thể bộc lộ quan điểm của riêng mình theo những cách thức khác
nhau, nhưng cần chân thành, thiết thực, hợp lí, chặt chẽ và thuyết phục. Về cơ bản,
cần đạt được một số yêu cầu sau:
1. Về hình thức và kĩ năng (2,0 điểm)
- Thí sinh được tự do lựa chọn các kiểu bài và thao tác tạo lập văn bản, nhưng
phải phù hợp và nhuần nhuyễn.
- Thí sinh được tự do huy động các chất liệu thuộc tri thức sách vở, tri thức đời
sống và những trải nghiệm của riêng mình...Tuy nhiên, vẫn phải xác định rõ vấn đề
thuộc phạm vi nghị luận xã hội chứ không phải nghị luận văn học.
- Thí sinh cần phải xác định tâm thế của người trong cuộc: không phải chỉ nói
về người khác, cho người khác; mà trước hết, cần phải thấy đây là chuyện của mình,
phải nói từ mình, nói cho mình. Ở đây, cùng với nhận thức đời sống còn là quá trình
tự nhận thức để vươn tới hoàn thiện nhân cách của chính mình.
2. Về nội dung (6,0 điểm)
a) Làm rõ nội dung ý kiến (2,0 điểm):
- Ý kiến gồm hai vế có vẻ trái ngược nhưng thực chất là bổ sung cho nhau: một
vế nhấn mạnh vào ý chí, một vế nhấn mạnh vào lý trí.
- Chỉ rõ: nỗ lực khẳng định mình để thành công và tỉnh táo chế ngự bản thân để
tránh vấp ngã, thất bại đều có vai trò quan trọng như nhau đối với quá trình hoàn
thiện nhân cách.
- Hiểu được: cả sự khẳng định và chế ngự bản thân đều phải phù hợp với chuẩn
mực văn hóa, đạo đức, pháp luật của xã hội.
b) Bàn luận, mở rộng vấn đề (3,0 điểm):
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến về một vấn đề đã trở thành quy luật
trong cuộc sống nhân sinh: để hoàn thiện nhân cách bao giờ cũng cần một ý chí mạnh
mẽ cùng một lý trí tỉnh táo.
- Khẳng định vai trò, tác dụng của vấn đề đối với việc tu dưỡng phấn đấu của
con người nói chung, của thanh niên hiện nay nói riêng.

c) Liên hệ bản thân (1,0 điểm):
- Nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải rèn rũa để có được sự mạnh mẽ của ý
chí và sự tỉnh táo của lý trí.
- Có những phương hướng cụ thể để trau dồi những phẩm chất trên ngay khi
ngồi trên ghế nhà trường.
Câu 2. (12,0 điểm)
Thí sinh có thể triển khai bài làm của mình theo các cách thức khác nhau và
lựa chọn những dẫn liệu khác nhau, có thể có cách nhìn nhận vấn đề theo quan điểm
riêng và có hệ thống ý riêng, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. Về
cơ bản, cần đạt được một số yêu cầu sau:
1. Về hình thức và kĩ năng (3,0 điểm)
Cần xác định đây là kiểu bài nghị luận văn học để triển khai bài làm đúng kiểu
văn bản. Cần phát huy đồng thời hai năng lực: nắm bắt và làm sáng tỏ một vấn đề lí
luận văn học, cụ thể là lí luận về hình tượng và lao động nghệ thuật của nhà văn; cảm
nhận và phân tích được những biểu hiện của nữ tính trong hình tượng nhân vật phụ
nữ của tác phẩm văn học.
2. Về nội dung (9,0 điểm)
a) Làm rõ nội dung, ý nghĩa của nhận định (3,0 điểm):
- Từ một số tác phẩm văn học đã được học có hình tượng nhân vật phụ nữ, thí
sinh cần trình bày cách hiểu của mình về khái niệm “nữ tính” và những biểu hiện sinh
động của nó trong đời sống và trong văn học. Lưu ý: đề thi không yêu cầu thí sinh
phải lý luận đầy đủ về “nữ tính” mà chỉ cần nêu được những nét đặc trưng của nữ tính
trên một số phương diện chính như ngoại hình, thể chất, đạo đức, tâm lý, xã
hội…Điều quan trọng là thí sinh thấy được rằng hình tượng nhân vật phụ nữ trong
văn học đã trải qua quá trình vận động, biến đổi phản ánh được sự vận động, biến đổi
về địa vị xã hội của người phụ nữ qua các giai đoạn lịch sử.
- Thí sinh cần hiểu được: nhận định nêu trong đề bài nhấn mạnh việc phát hiện
phương diện nữ tính của người phụ nữ trong quá trình sáng tạo là nhân tố có ý nghĩa
quyết định sự thành công của hình tượng nhân vật phụ nữ trong tác phẩm. Đồng thời
thấy được, nhận định cũng gián tiếp đề cập đến một yêu cầu không thể thiếu đối với
người nghệ sĩ chân chính: gắn bó với đời sống, hiểu biết kĩ lưỡng về cuộc sống, về
con người; trong đó, có việc nhận thức thực sự sâu sắc về giới.
- Điểm nhìn của tác giả khi xây dựng hình tượng nhân vật phụ nữ cũng cần
được lưu ý. Việc tác giả nhìn nhân vật nữ từ quan điểm của người khác giới hay từ
chính quan điểm của người phụ nữ có ý nghĩa quan trọng đối với mức độ thành công
của hình tượng nhân vật phụ nữ.
- Cần chỉ rõ: đây là một nhận định đúng đắn, sâu sắc đề cập đến một trong
những yêu cầu cao về chất lượng đối với sáng tạo nghệ thuật và càng có ý nghĩa đối
với những nền văn học còn chưa có nhiều truyền thống về nữ quyền.
b) Phân tích một số hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu (6,0 điểm):
- Cần lựa chọn được một số hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác
phẩm từ văn học dân gian cho đến văn học hiện đại đã học, không hạn định về thể
loại, về tác phẩm trong nước hay nước ngoài.
- Cần làm nổi bật được những biểu hiện phong phú và tinh tế của nữ tính trong
khi phân tích vẻ đẹp của các hình tượng nhân vật phụ nữ đó.
- Cần nêu bật những đặc sắc nghệ thuật trong việc thể hiện nữ tính ở mỗi hình
tượng nhân vật mà mình lựa chọn phân tích./.
----------------Hết------------------

Thi HSG V1: TP HCM 2010

By Anonymous →
Nếu có hình trong tệp đính kèm này, hình này sẽ không được hiển thị.  Tải xuống tệp đính kèm gốc
SỞ  GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
------------------------ 
              ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ THI
CHỌN  ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI THÀNH PHỐ
Môn thi: NGỮ VĂN
Ngày thi thứ nhất: 19–10–2010
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể  thời gian phát đề)
    (Đề thi có 01 trang)

Câu 1 (8 điểm)
      Suy nghĩ của anh/ chị về lời khuyên: Lối đi ngay dưới chân mình.
Câu  2 (6 điểm)
      Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn văn sau:
      Ở đời, thỉnh thoảng ta lại có cảm giác như thế mỗi khi sung sướng quá, mỗi khi yêu nhiều quá. Yêu hoa sầu đâu không để vào đâu cho hết, nhớ hoa sầu đâu ở quê hương ta không biết mấy mươi ! Người mắc bệnh lưu li đã xa cách phần tử mấy chục năm rồi mà lạ thay sao cứ đến tháng ba, nhớ đến sầu đâu mình vẫn cảm như thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà dịu dàng có khi hơn cả mùi thơm hoa mộc ! Mùi thơm huyền diệu đó hòa với mùi của đất ruộng cày vỡ ra, mùi đậu đã già mà người nông phu đi hái để đem về phơi nắng, mùi mạ non lên sớm xanh màu hoa lí và đẹp như những bức tranh lập thể, mùi khoai sắn, mùi rau cần ở các ruộng xâm xấp nước đưa lên . . . bao nhiêu thứ đó, bấy nhiêu thương yêu …
            (Vũ  Bằng - Thương nhớ mười hai, NXB Văn học, Hà Nội, 1993) 
       (Cây sầu đâu: cây xoan ta; phần tử: phần (cây bưởi), tử (cây thị) vốn là hai thứ cây thường trồng ở thôn quê, được dùng như biểu tượng chỉ nơi quê nhà) 
  Câu 3 (6 điểm)
            Một câu thơ  hay là một câu thơ có sức gợi.
                      (Lưu Trọng Lư)
  Hãy bàn luận về ý kiến trên.
… ………….. Hết ………………







 
                       Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh…………………………………………    Số báo danh:………………...


SỞ  GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
------------------------ 
             
KỲ  THI
CHỌN  ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI THÀNH PHỐ
Môn thi: NGỮ VĂN
Ngày thi thứ nhất: 19–10–2010
      HƯỚNG DẪN CHẤM  
      I. HƯỚNG DẪN CHUNG 
        • Đề bài gồm 3 câu: câu 1 (8 điểm) là bài nghị luận xã hội; câu 2 và 3 (mỗi câu 6 điểm) là bài nghị luận văn học. Đề bài có sự tích hợp kiểm tra kiến thức xã hội, kĩ năng cảm thụ, và kĩ năng diễn đạt, lập luận của học sinh.
        • Giám khảo cần nắm vững nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
        • Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.

      II. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
      1. Yêu cầu chung về kĩ năng
    • Nắm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội và bài nghị luận văn học. Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác.
    • Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
    • Không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, dùng từ.

      1. Yêu cầu chung về nội dung 
  Nội dung Điểm
Câu 1    Suy nghĩ  về lời khuyên: Lối đi ngay dưới chân mình.  
 
    • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,0
   
    • Phương hướng, định hướng, cách thức, giải pháp để giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống có  ngay trong hoàn cảnh thực tại và chính bản thân mỗi người.
    • Cần có trí tuệ, bản lĩnh, hành động để khám phá.
1,5
   
    • Cuộc sống có nhiều khó khăn, bất trắc, bế tắc. Nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những cơ sở để tìm ra những giải pháp.
    • Có suy nghĩ sáng suốt, bản lĩnh vững vàng và hành động cụ thể sẽ có khả năng khám phá, giải quyết.
4,0
   
    • Bài học về  lối sống chủ động, tích cực, dám nghĩ, dám làm.
    • Phê phán lối sống thụ động, thiếu bản lĩnh.
1,5
 
Câu 2    Cảm nhận về đoạn văn của Vũ  Bằng  
 
    • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,0
 
  • Vẻ đẹp nội dung:
   + Nỗi nhớ  tha thiết, cụ thể, sống động về hương sắc hoa sầu đâu.
   + Tình cảm gắn bó và nỗi niềm thương nhớ  quê hương.
  • Vẻ đẹp nghệ thuật:
   + Từ ngữ gợi tả, gợi cảm, giàu chất thơ; câu văn giàu nhạc điệu …
   + Hình ảnh gần gũi, bình dị, đậm đà hồn quê.
   + Liên tưởng và cảm nhận tinh tế…
4,0
    - Cái tôi tác giả chân thật, tinh tế, tài hoa.
    - Gợi tình yêu thiên nhiên, quê hương xứ sở.
1,0
Câu 3    Bàn luận về ý kiến: Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi.  
     Giới thiệu vấn đề nghị luận 1,0
   Câu thơ có sức gợi tả, gợi liên tưởng, tưởng tượng; gợi tình cảm, cảm xúc là câu thơ độc đáo, ấn tượng, có sức lay động … 1,0
   - Thơ là thể loại trữ tình, là tiếng nói của tình cảm và trí tưởng tượng phong phú; ngôn ngữ thơ hàm súc, đa nghĩa, giàu nhạc điệu … tạo sức gợi của thơ.
   - Câu thơ có sức gợi thì lời thơ dư ba, ý thơ đa nghĩa, nhạc thơ vang vọng, tạo nên những rung động thẩm mĩ sâu sắc.
   - Thiếu sức gợi, câu thơ kể lể, khó lay động.
3,0
   - Là một nhận xét chính xác, sâu sắc, rất tinh của một người sành thơ, sành nghề.
   - Giúp người làm thơ có định hướng để sáng tác; người đọc thơ có cơ sở để phân biệt thơ hay, dở.
   Lưu  ý: Thí sinh cần kết hợp lí lẽ và dẫn chứng.
1,0

 

Đáp án kì thi HSG 12 : TPHCM năm 2010-2011

By Anonymous →


SỞ  GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ  HỒ CHÍ MINH 
------------------------ 
             
KÌ  THI HỌC SINH GIỎI THPT CẤP THÀNH PHỐ 
NĂM HỌC 2010 - 2011
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể  thời gian phát đề)

      HƯỚNG DẪN CHẤM  
      I. HƯỚNG DẪN CHUNG 
  • Đề bài gồm 2 câu theo cấu trúc đề thi học sinh giỏi Quốc gia: câu 1 (8 điểm) là bài nghị luận xã hội; câu 2 (12 điểm) là bài nghị luận văn học. Đề bài có sự tích hợp kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận của học sinh.
  • Giám khảo cần nắm vững nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
  • Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.

      II. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
  1. Yêu cầu chung về kĩ  năng
  • Nắm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội và bài nghị luận văn học. Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác.
  • Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
  • Không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, dùng từ.
  2. Yêu cầu chung về nội dung 

Câu Nội dung Điểm
Câu 1     Suy nghĩ về vấn đề  đặt ra trong hai trích dẫn về  ước mơ. 8,0
  • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,0
      
  • Ý kiến 1: Cuộc sống ngắn ngủi, con người sẽ không đủ thời gian để thực hiện ước mơ, vì vậy không nên mơ ước quá nhiều, quá xa rời thực tại.
  • Ý kiến 2: Con người cần mơ ước nhiều hơn, khát khao mãnh liệt hơn để đủ sức mạnh biến những điều mơ ước thành hiện thực. 
2,0


      
  • Tuy nhiên, các  ý kiến trên vẫn có những hạn chế:
        + Trong cuộc sống, nếu không có nhiều mơ ước, không có những ước mơ cao, xa, con người sẽ không thể vượt lên thực tại để thực hiện những điều tốt đẹp, kì diệu.
        + Không phải cứ ước mơ thật nhiều, khát khao mãnh liệt thì tất cả đều trở thành hiện thực.
  • Phải biết kết hợp giữa ước mơ và thực tại, ước mơ phải bắt nguồn từ cuộc sống. Phải theo đuổi ước mơ nhưng đừng mơ ước hão huyền.
  • Lưu ý: học sinh cần lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để chứng minh.
4,0
      
  • Phê phán những người không dám mơ ước và những kẻ mơ tưởng viển vông.
  • Phương hướng rèn luyện của bản thân.
1,0
Câu 2         Làm sáng tỏ một ý  kiến bàn về văn học. 12,0
  • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,5
      
  • Cuộc sống được  đề cập trong văn học luôn có hai mặt: vừa có  những hạnh phúc tuyệt vời vừa có những đau khổ  bất tận, vừa có nụ cười trong sáng vừa có giọt nước mắt cay đắng.
  • Sở dĩ như vậy vì văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống với tất cả mọi chiều kích của nó.
3,0
      
  • Học sinh phân tích tác phẩm để chứng minh:
  • Cuộc sống tuyệt vời với cái đẹp, cái nên thơ chính là những giá trị tốt đẹp của cuộc sống: lòng yêu thương, đức hy sinh, sự rung động trước cái đẹp,…
  • Cuộc sống bi thảm với niềm sầu muộn và giọt nước mắt chính là những mặt hạn chế, tiêu cực. Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của con người, cái khốc liệt của chiến tranh, …
àTất cả những điều này đều được phản ánh trong văn học.
  • Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều mà ở góc nhìn đa chiều. Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế. 
  • Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.
6,0
      
  • Khái quát, đánh giá những vấn đề đã nghị luận.
1,5

Đề thi -HDC HSG 12: TPHCM năm 2010-2011

By Anonymous →


SỞ  GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ  HỒ CHÍ MINH 
------------------------ 
              ĐỀ CHÍNH THỨC
KÌ THI HỌC SINH GIỎI THPT CẤP THÀNH PHỐ
NĂM HỌC 2010 - 2011
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể  thời gian phát đề)
      (Đề thi có 01 trang)

    Câu 1 (8 điểm)
    Ngạn ngữ có câu: Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều. Thế nhưng nhà văn Nga M.Prisvin lại cho rằng: Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải ước mơ tha thiết hơn nữa để biến tương lai thành hiện tại.
    Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong hai trích dẫn trên.
  
    Câu 2 (12 điểm)
    Trên trang sách, cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.
                                  (Theo Nguyễn Văn Thạc - Mãi mãi tuổi 20)
    Anh/chị  hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một số tác phẩm văn học.
         
…………….. Hết ………………







                       Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị  không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh:……………………………………… Số báo danh:……………………


---------------------

SỞ  GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ  HỒ CHÍ MINH 
------------------------ 
             
KÌ  THI HỌC SINH GIỎI THPT CẤP THÀNH PHỐ 
NĂM HỌC 2010 - 2011
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể  thời gian phát đề)

      HƯỚNG DẪN CHẤM  
      I. HƯỚNG DẪN CHUNG 
  • Đề bài gồm 2 câu theo cấu trúc đề thi học sinh giỏi Quốc gia: câu 1 (8 điểm) là bài nghị luận xã hội; câu 2 (12 điểm) là bài nghị luận văn học. Đề bài có sự tích hợp kiểm tra kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận của học sinh.
  • Giám khảo cần nắm vững nội dung bài làm của học sinh để đánh giá, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc. Chú ý khuyến khích các bài viết có ý riêng, sáng tạo.
  • Thí sinh có thể trình bày theo các cách riêng, nếu đáp ứng các yêu cầu vẫn cho đủ điểm.

      II. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
  1. Yêu cầu chung về kĩ  năng
  • Nắm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội và bài nghị luận văn học. Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác.
  • Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.
  • Không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, dùng từ.
  2. Yêu cầu chung về nội dung 

CâuNội dungĐiểm
Câu 1    Suy nghĩ về vấn đề  đặt ra trong hai trích dẫn về  ước mơ.8,0
  • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,0
      
  • Ý kiến 1: Cuộc sống ngắn ngủi, con người sẽ không đủ thời gian để thực hiện ước mơ, vì vậy không nên mơ ước quá nhiều, quá xa rời thực tại.
  • Ý kiến 2: Con người cần mơ ước nhiều hơn, khát khao mãnh liệt hơn để đủ sức mạnh biến những điều mơ ước thành hiện thực. 
2,0

      
  • Tuy nhiên, các  ý kiến trên vẫn có những hạn chế:
        + Trong cuộc sống, nếu không có nhiều mơ ước, không có những ước mơ cao, xa, con người sẽ không thể vượt lên thực tại để thực hiện những điều tốt đẹp, kì diệu.
        + Không phải cứ ước mơ thật nhiều, khát khao mãnh liệt thì tất cả đều trở thành hiện thực.
  • Phải biết kết hợp giữa ước mơ và thực tại, ước mơ phải bắt nguồn từ cuộc sống. Phải theo đuổi ước mơ nhưng đừng mơ ước hão huyền.
  • Lưu ýhọc sinh cần lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để chứng minh.
4,0
      
  • Phê phán những người không dám mơ ước và những kẻ mơ tưởng viển vông.
  • Phương hướng rèn luyện của bản thân.
1,0
Câu 2        Làm sáng tỏ một ý  kiến bàn về văn học.12,0
  • Giới thiệu vấn  đề nghị luận
1,5
      
  • Cuộc sống được  đề cập trong văn học luôn có hai mặt: vừa có  những hạnh phúc tuyệt vời vừa có những đau khổ  bất tận, vừa có nụ cười trong sáng vừa có giọt nước mắt cay đắng.
  • Sở dĩ như vậy vì văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống với tất cả mọi chiều kích của nó.
3,0
      
  • Học sinh phân tích tác phẩm để chứng minh:
  • Cuộc sống tuyệt vời với cái đẹp, cái nên thơ chính là những giá trị tốt đẹp của cuộc sống: lòng yêu thương, đức hy sinh, sự rung động trước cái đẹp,…
  • Cuộc sống bi thảm với niềm sầu muộn và giọt nước mắt chính là những mặt hạn chế, tiêu cực. Đó là cái ác, cái xấu, những mặt trái của con người, cái khốc liệt của chiến tranh, …
àTất cả những điều này đều được phản ánh trong văn học.
  • Văn học không phản ánh cuộc sống một cách đơn điệu, một chiều mà ở góc nhìn đa chiều. Trong mặt tốt, tích cực có cái tiêu cực, hạn chế. 
  • Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.
6,0
      
  • Khái quát, đánh giá những vấn đề đã nghị luận.
1,5

TS ĐH 2011: Đề thi - Gợi ý Môn Văn Khối D

By Anonymous →

ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2011
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm)
Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009), Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?
Câu II. (3,0 điểm)
Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
            “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn.
            Anh/chị hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
                                    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
                                    Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
                                    Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
                                    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
                                    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
                                    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
                                                (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12 Nâng cao,
                                                Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 106)
            Phân tích đoạn thơ trên để thấy được chất suy tưởng triết lí và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên.
 ---------------------------------------------------
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I: Thí sinh trả lời ngắn gọn, đảm bảo các ý sau:
1.      Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc:
_ Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển của dân tộc được Tố Hữu sử dụng điêu luyện kết hợp với lối hát đối đáp giao duyên vốn quen thuộc trong ca dao dân ca
_ Tác giả đã chọn lựa và sử dụng thật linh hoạt và đầy sáng tạo cặp đại từ nhân xưng vốn quen thuộc trong ca dao dân ca “mình – ta”
_ Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ truyền thống (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, cường điệu, điệp từ, điệp ngữ …) cũng như sử dụng những từ láy và cách nói quen thuộc của thơ ca dân gian đã tạo nên nhạc tính dân tộc của bài thơ như giọng điệu tâm tình.
2.      Những phương tiện nghệ thuật trên rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm lớn, ân tình cách mạng (tình quân dân “cá nước” trong chín năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng ở núi rừng Việt Bắc, tình cảm đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu) giữa người cán bộ kháng chiến về xuôi và nhân dân (người ở lại) Việt Bắc, làm cho tình cảm giữa họ kín đáo mà không xa vời, gắn bó thắm thiết, mặn nồng sâu sắc mà không gượng gạo, không sỗ sàng.
Câu II : Thí sinh cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản của câu hỏi : Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến : Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
Thí sinh có thể trình bày bài viết theo những nội dung cụ thể khác nhau. Sau đây là một số gợi ý :
            - Giới thiệu ý kiến của đề bài: Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích.
            - Giải thích :
            + Người nổi tiếng : là người có tiếng tăm được nhiều người biết đến.
            + Người có ích : là người có cuộc sống có ích, có ý nghĩa, cũng cần thiết và có giá trị đối với người khác, gia đình, xã hội.
            + Ý kiến là một lời khuyên về một trong những mục đích sống của con người : hãy sống với một mục đích sống chân chính đừng cố gắng theo đuổi tiếng tăm, danh vọng mà hãy quan tâm đến giá trị của cuộc sống, nhất là với mọi người.
            - Phân tích chứng minh :
            + Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng :
            × Tiếng tăm, danh vọng :  thường không phải là mục đích cao đẹp nhất của cuộc sống.
            × Danh vọng có thể làm tha hóa con người, làm băng hoại đạo đức và đẩy con người ta vào tội lỗi.
            × Để cố trở thành người nổi tiếng có những người đã đi vào những con đường bất chính, sử dụng những phương cách xấu xa. Do đó, nổi tiếng như thế chỉ là vô nghĩa.
            + Trước hết, hãy là người có ích :
            × Người sống có ích mang lại nhiều ích lợi cho người khác trong cuộc sống.
            × Sống có ích sẽ làm thăng hoa giá trị con người, thăng hoa giá trị cuộc sống.
            × Người có ích dù không được nổi tiếng nhưng cuộc sống của họ là cần thiết, có giá trị, có ý nghĩa đối với người khác, gia đình, xã hội. Ngay cả trong quan niệm của người xưa về “chí nam nhi”, chữ “danh” (Phải có danh gì với núi sông) luôn gắn với thực chất của hành động (Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ).
            - Bình luận :
+ Nổi tiếng cũng có mặt tốt, có tác dụng tốt. Tiếng nói của người nổi tiếng thường có tác động nhiều hơn, lớn hơn đối với người khác, xã hội.
+ Nhưng đừng cố gắng chạy theo việc trở thành người nổi tiếng bằng mọi cách vì điều đó mang lại nhiều tác hại. Hãy để cho tiếng tăm được đến một cách tự nhiên bằng hành động có thực chất: hữu xạ tự nhiên hương.
+ Làm sao để là người có ích :
× Hãy sống có lý tưởng;
× Hãy sống có đạo đức, có trách nhiệm;
× Hãy sống vì gia đình, vì xã hội, vì cộng đồng;
+ Ý kiến này là một biểu hiện cụ thể của vấn đề danh và thực trong cuộc sống con người. Giải quyết tốt mối quan hệ của vấn đề nổi tiếng và có ích, của danh và thực, người ta sẽ dễ có cuộc sống bình an, hạnh phúc, chân chính.
- Đây là một ý kiến có giá trị đúng đắn. Đồng thời nó cũng là một lời khuyên rất có tính thời sự, nhất là trước hiện tượng một bộ phận giới trẻ ngày nay đang có xu hướng tìm sự nổi tiếng bằng mọi giá.
Câu III.a.
1.Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
- Thạch Lam là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng có một gương mặt riêng so với các nhà văn của Tự lực văn đoàn.  Văn của Tự lực văn đoàn thường đượm nỗi buồn lãng mạn còn văn của Thạch Lam lại chất chứa những nỗi đau hiện thực. Nó như một thứ “hương hoàng lan” được chưng cất từ những nỗi đời.
- Truyện ngắn Hai đứa trẻ in trong tập Nắng trong vườn (1938), rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Thạch Lam. Đó là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Nét phong cách này thể hiện sâu sắc ở khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm.
            2.Phân tích làm rõ ý kiến
a.Giải thích ý kiến: Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn. Vì truyện của ông là kiểu truyện tâm tình, dường như không có cốt truyện; giàu cảm xúc, nhẹ nhàng mà thấm thía như một bài thơ. Truyện Hai đứa trẻ bộc lộ niềm cảm thương chân thành của nhà văn với cuộc sống chìm khuất, mòn mỏi, quẩn quanh của những con người nhỏ nhoi nơi phố huyện tăm tối, cùng sự trân trọng những ước mong khiêm nhường mà thiết tha của họ về một cuộc sống trong sáng, tốt đẹp hơn.
b.Phân tích làm rõ ý kiến
Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian: Cảnh phố huyện lúc chiều xuống. Cảnh phố huyện lúc đêm về. Cảnh phố huyện lúc có chuyến tàu khuya đi qua. Liên là một cô gái nhỏ. Vì cha mất việc cả nhà phải chuyển từ Hà Nội về sinh sống ở một phố huyện nghèo. Tuy còn nhỏ nhưng Liên đã tỏ ra đảm đang, thay mẹ trông coi một quán tạp hóa nhỏ để kiếm sống và Liên cũng rất chu đáo khi thay mẹ chăm sóc em là bé An. Đặc biệt Liên là một cô gái nhỏ dịu hiền, nhân hậu, đa cảm. Diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên được khắc họa qua ba cảnh phố huyện, như ba nấc thang tâm lí: chiều muộn, đêm về và chuyến tàu khuya qua phố huyện.
- Trước hết là tâm trạng buồn man mác của Liên, khi chiều về, phố huyện hiện lên trong sự nghèo khổ, xơ xác:
            + Với cảm xúc và bút pháp lãng mạn, thì cảnh thiên nhiên phố huyện mang một vẻ đẹp trữ tình thơ mộng.
+ Với cảm xúc và bút pháp hiện thực thì cuộc sống xã hội nơi phố huyện lại là bức tranh nghèo khổ, xơ xác, tăm tối. Cái áo khoác ngoài thơ mộng của thiên nhiên cũng không che lấp nổi cảnh ngày tàn, cảnh chợ tàn và cảnh những kiếp người tàn.
 + Liên tuy không lam lũ vất vả như những mảnh đời kia nhưng là những số phận đáng thương nhất. Vì quá khứ tươi đẹp của hai chị em Liên đã thuộc về dĩ vãng. Hiện tại thì buồn tẻ, tăm tối, bế tắc. Chúng có cái để so sánh, để cảm nhận cuộc sống tăm tối tẻ nhạt của phố huyện. Đúng là cuộc sống phố huyện cứ đang tàn dần, lụi dần trong đói nghèo lam lũ, quẩn quanh. Những tâm hồn mới lớn như chị em Liên, chứng kiến những cảnh đó không buồn sao được. Nhưng vì còn là những đứa trẻ nên nỗi buồn cũng chỉ “man mác”, đọng trong đôi mắt Liên “bóng tối ngập đầy dần”. Và cái buồn của chiều quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của Liên.
- Liên càng buồn thấm thía hơn khi đêm về, phố huyện chìm trong bóng tối và cuộc sống cứ lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc.
+ Về đêm phố huyện là sự tương tranh giữa bóng tối và ánh sáng. Màn đêm buông xuống, bóng tối cứ lan dần từng con đường nhỏ, từng ngõ xóm, để rồi nhấn chìm phố huyện trong bóng tối dày đặc. Ánh sáng phố huyện cũng nhiều: có ánh sáng của thiên nhiên (ánh sao, ánh đom đóm), có ánh sáng của cuộc sống lao động nhưng chỉ là những khe, chấm, hột…tất cả đều quá nhỏ nhoi, yếu ớt trước vũ trụ thăm thẳm bao la ngập trong bóng tối. Nó không đủ thắp sáng phố huyện mà dường như chỉ càng tôn lên màn tối dày đặc bao phủ phố huyện nghèo.
+ Khi đêm về cuộc sống phố huyện cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ, bế tắc. Ngày hôm nay là sự lặp lại y nguyên những gì đã diễn ra hôm qua và sẽ lặp lại ở ngày mai. Mẹ con chị Tí lại dọn hàng nước, gia đình bác xẩm lại xuất hiện với tiếng đàn ế khách. Bác phở Siêu lại gánh phở đi bán…Phố huyện như một sân khấu cuộc đời chỉ độc diễn một màn buồn tẻ, không có sự thay đổi cả người lẫn cảnh. Đó là cuộc sống cứ “mốc lên, mòn đi, rỉ ra, mục ra” không lối thoát (Sống mòn- Nam Cao). Nó gợi liên tưởng tới hình ảnh “chiếc ao đời phẳng lặng” trong truyện ngắn Tỏa nhị kiều của Xuân Diệu. Nhà văn không trực tiếp tả tâm trạng này của Liên. Nhưng cảnh vật và cuộc sống phố huyện tăm tối, tẻ nhạt trong đêm lại được cảm nhận qua tâm trạng của Liên. Sống trong hoàn cảnh như vậy, chị em Liên sao không khắc khoải chờ đợi một cái gì đó dù mơ hồ, nỗi buồn dường như thấm thía hơn. Nhưng không hy vọng thì làm sao sống nổi. Và chuyến tàu đêm đã thắp lên niềm hy vọng đó.
- Cảnh chuyến tàu khuya và tâm trạng buồn vui của Liên
+ Trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ thì chuyến tàu đêm qua phố huyện là cả một niềm vui lớn với hai chị em Liên. Hai đứa trẻ đêm nào cũng náo nức thức chờ tàu, không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu vật chất. Chúng không chờ tàu để bán hàng, dù mẹ vẫn dặn cố thức đợi chuyến tàu để bán hàng. Hai chị em chờ tàu là xuất phát từ nhu cầu cuộc sống tinh thần. Khi tàu đến Liên và An đứng cả dậy, hướng về phía con tàu và khi nó đi rồi Liên vẫn “lặng theo mơ tưởng”.
+ Con tàu đến rồi lại đi nhanh để lại trong hai đứa trẻ nỗi buồn nhớ tiếc. Tàu đi rồi phố huyện lại trở về với đêm tối và sự tĩnh lặng. Bóng đêm và sự tĩnh lặng càng nặng nề hơn. Niềm vui của hai đứa trẻ vừa lóe lên lại bị dập tắt như đám than bỗng bùng lên cháy rực rồi lụi tàn hẳn trong đêm. Nỗi chờ đợi bắt đầu khắc khoải từ khi bóng chiều đổ xuống, rồi đêm về và phố huyện vào khuya. Hai đứa trẻ khắc khoải chờ đợi từng bước đi của thời gian, từng bước xích lại gần của chuyến tàu: tàu sắp đến, tàu vụt qua, tàu đi rồi chỉ còn chấm đèn ghi nhỏ xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Đêm tối lại bao bọc phố huyện.
3.Đánh giá
- Miêu tả khung cảnh phố huyện buồn, nghèo nàn, tẻ nhạt, bế tắc và tâm trạng của hai đứa trẻ, đặc biệt là Liên một cách trực tiếp và gián tiếp, qua thực tại và hồi ức đan xen; miêu tả bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất thơ; nhà văn bộc lộ niềm xót thương những kiếp người đói nghèo cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc trong xã hội cũ.
- Từ đó tác giả như muốn lay tỉnh những tâm hồn uể oải, đang lụi tàn, nhen lên trong họ ngọn lửa của lòng khát khao được sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, khát khao thoát khỏi cuộc đời tăm tối đang chôn vùi họ. Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện sâu sắc cái tài và cái tâm của nhà văn Thạch Lam. Cái tài của Thạch Lam là sở trường về truyện ngắn và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế. Ông đã đem đến cho văn học dân tộc kiểu truyện ngắn trữ tình đượm buồn, truyện ngắn tâm tình. Truyện dường như không có cốt truyện, nhẹ nhàng mà thấm thía, giàu cảm xúc mà cũng giàu chất triết lí. Cái tâm của Thạch Lam là tình người sâu sắc. Thạch Lam không chỉ thấu hiểu, cảm thương những đau khổ thiệt thòi của những số phận nhỏ bé bị lãng quên khi miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên, mà còn thấu hiểu đồng cảm với những khát vọng chân chính của họ, dù nó mới chỉ là những khát khao rất đỗi bình dị, mơ hồ.
Câu III.b.
I. Yêu cầu về kỹ năng :
            - Biết cách làm một bài nghị luận văn học để cảm nhận đoạn thơ về nội dung, nghệ thuật.
            - Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ.
II. Yêu cầu về kiến thức : Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo các ý chính sau :
1) Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn thơ :
- Chế Lan Viên là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới với phong cách thơ suy tưởng, giàu triết lí và nghệ thuật tạo hình sâu sắc.
- “Tiếng hát con tàu”     ® trích từ trong tập “Ánh sáng và phù sa”(1960).
                                    ® trích dẫn đoạn thơ (nêu cảm nhận chung về đoạn thơ - trình tự của mạch thơ)
2) · Phân tích cụ thể :
* Đoạn 1 :        “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
                                    Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.
                                    Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
                                    Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.”
            - Nội dung chủ yếu : công lao của Tây Bắc trong mười năm nhưng sức lan tỏa là “nghìn năm sau”. Phân tích hình ảnh: ngọn lửa, thời gian: mười năm - nghìn năm, cách xưng danh “Con – Mẹ”.
            - Nghệ thuật đặc sắc : giọng thơ như lời tâm sự, mang ý nghĩa triết lí sâu sắc (mười năm – nghìn năm, ngôn từ: Mẹ - Đất nước, Tây Bắc).
            * Đoạn 2 : Hành trình trở về Tây Bắc
                                    “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
                                    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
                                    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
                                    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”
            - Nội dung chủ yếu : trở về với nhân dân, Việt Bắc là sự cần thiết nhất trong cuộc sống: cội nguồn, môi trường để con người phát triển tài năng, thỏa mãn những nhu cầu vật chất lẫn tinh thần.
            - Nghệ thuật đặc sắc : biện pháp tu từ so sánh, ngôn từ tạo hình, biểu cảm.
            · Cảm nhận chung : Đoạn thơ mang phong cách suy tưởng và ý nghĩa triết lí sâu sắc “Uống nước nhớ nguồn” và nhất là ngôn từ tạo hình, tạo cảm.
            3) Đánh giá về tác giả, đoạn thơ để rút ra bài học triết lí :
                                    “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
                                    Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
                                                                        (Chế Lan Viên)
Nguyễn Đức Hùng, Hồ Kỳ Thuận
(TT Luyện thi Đại học Vĩnh Viễn – TP.HCM)

----------------------------------------
Đề Văn khối D: Hay, phù hợp chương trình THPT
Đề thi hay, câu hỏi phù hợp với chương trình môn Ngữ văn THPT. Các câu hỏi đều hướng tới sự tư duy sáng tạo, kích thích được hứng thú của thí sinh khi làm bài. Có thể đề hơi dài.
Câu 1: Vẫn hỏi kiến thức cơ bản về phương diện nghệ thuật giàu tính dân tộc của đoạn trích bài thơ Việt Bắc, tuy nhiên nếu chỉ học gạo, khó có thể đạt điểm tối đa.
Câu 2: Vấn đề đưa ra bàn luận rất gần gũi với lứa tuổi vừa tốt nghiệp phổ thông, lại gợi hứng thú để thí sinh bộc lộ chân thành suy nghĩ của mình, khi ở lứa tuổi này các em rất hay thích các thần tượng; mặt khác nó hướng các em biết suy nghĩ nghiêm túc, phù hợp về hướng phấn đấu của bản thân.
Câu 3a: Cách hỏi hay nhưng không đánh đố. Thí sinh có kiến thức vẫn phải tư duy mới hướng việc giải quyết vấn đề vào cách làm rõ một nét phong cách truyện ngắn của Thạch Lam qua khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.
Câu 3b: Đòi hỏi không chỉ phân tích một đoạn thơ trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên mà thí sinh còn phải biết chỉ ra và đánh giá được chất suy tưởng triết lý và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong đoạn thơ. Yêu cầu này có tính phân loại cao và phù hợp với thí sinh học chương trình nâng cao.
Giáo viên Hà Phương Minh(Trung tâm luyện thi ĐH Vĩnh Viễn, TP.HCM)