Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Vợ chồng A Phủ"

Đáp án chính thức thi ĐH Khối D môn Văn

By Anonymous →

Nếu có hình trong tệp đính kèm này, hình này sẽ không được hiển thị.  Tải xuống tệp đính kèm gốc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
(Đáp án - Thang điểm có 04 trang)
Câu Ý
Nội dung
1
Hoàn cảnh diễn ra việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ; ý nghĩa của
sự việc ấy đối với tâm lí của nhân vật Mị
2,0
1. Hoàn cảnh diễn ra sự việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ (1,0 điểm)
- Do sơ ý để hổ bắt mất bò, A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng, bỏ mặc cho đói rét
suốt mấy đêm liền giữa kì sương muối khắc nghiệt ở Hồng Ngài; còn Mị sau bao
năm bị đày đọa cùng cực cũng đã trở nên chai lì. Những đêm trước, tuy vẫn trở
dậy thổi lửa, hơ tay, nhìn thấy A Phủ bị trói nhưng Mị chỉ dửng dưng, vô cảm.
0,5
- Đêm ấy, trong nỗi bất lực, bế tắc và hoàn toàn tuyệt vọng, A Phủ đã khóc; đúng
lúc đó, Mị nhìn sang và bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ.
0,5
2. Ý nghĩa của sự việc đối với tâm lí của nhân vật Mị (1,0 điểm)
- Việc nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ là khởi đầu cho sự thay đổi lớn trong
tâm lí của Mị; Mị nhớ lại lần cũng bị hành hạ như thế, mà xót xa thương mình; từ
đó đồng cảm với nỗi đơn độc và tuyệt vọng của A Phủ.
0,5
- Từ mối đồng cảm ấy, Mị càng hiểu sâu sắc hơn sự độc ác của cha con thống lí
Pá Tra, thấy rõ sự nguy khốn vô lí đang ập xuống A Phủ; lòng trắc ẩn của người
phụ nữ phút chốc thức dậy đã đem lại sức mạnh cho Mị, khiến Mị dám liều mình
cứu A Phủ.
0,5
2
Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa,
nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa
3,0
1. Giải thích ý kiến (0,5 điểm)
- Ngưỡng mộ thần tượng là sự tôn kính, mến phục nồng nhiệt dành cho những đối
tượng được xem là hình mẫu lí tưởng hoặc có quyền năng đặc biệt, có sức cuốn
hút mạnh mẽ đối với cá nhân hay cộng đồng; mê muội thần tượng là sự say mê,
tôn sùng một cách mù quáng, thiếu tỉnh táo trước thần tượng.
- Về nội dung, ý kiến này đề cập đến tính hai mặt của việc say mê thần tượng: nếu
ngưỡng mộ đúng mức là tích cực, thì ngưỡng mộ quá mức là tiêu cực và có thể
còn gây ra hậu quả khôn lường.
0,5
2. Bàn luận về ý kiến (2,0 điểm)
- Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa (1,0 điểm):
+ Ngưỡng mộ thần tượng thể hiện nhu cầu văn hóa cao của con người: nhu cầu
được sống trong những tình cảm cao cả, nồng nhiệt; nhu cầu được hướng tới,
vươn tới những tầm cao, những đỉnh cao sáng giá của đời sống.
0,5

+ Ngưỡng mộ thần tượng là một ứng xử văn hóa, biểu hiện ở các phương diện:
thái độ trân trọng mến phục; hành động tôn vinh cổ vũ; ngôn ngữ ca ngợi tán
dương.
0,5
- Mê muội thần tượng là một thảm họa (1,0 điểm):
+ Mê muội thần tượng là trạng thái mù quáng trong nhận thức, thái quá trong tình
cảm, không còn khả năng suy xét, phân biệt đúng sai, lẫn lộn về giá trị; mê muội
thần tượng còn dẫn đến hành động sai lầm quá khích, gây ra những hậu quả tệ hại
cho bản thân và xã hội.
+ Việc mù quáng chạy theo thần tượng hay khuyếch trương thần tượng quá mức
đều là biểu hiện của sự mê muội thần tượng, đều là những thái độ và ứng xử thiếu
lành mạnh, thậm chí thiếu văn hóa, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.
0,5
0,5
3. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
- Cần có nhận thức đúng đắn về việc ngưỡng mộ thần tượng và lường được những
hậu quả của sự mê muội để có thái độ và cách ứng xử phù hợp, làm cho tâm hồn
phong phú hơn, nâng tầm văn hóa cho bản thân, từ đó phấn đấu vươn tới những
tầm cao của đời sống.
- Biết chế ngự những cảm xúc say mê thái quá trước thần tượng, không chạy theo
thần tượng một cách mù quáng; phê phán mọi biểu hiện mê muội thần tượng trong
cuộc sống hàng ngày, trước hết là trong học đường.
0,5
3.a
Cảm nhận về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và
truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn, một ngòi bút hiện thực xuất sắc, một bậc
thầy về nghệ thuật truyện ngắn; sáng tác mang triết lí nhân sinh sâu sắc. Chí Phèo
là đỉnh cao trong sự nghiệp của Nam Cao; truyện có kết thúc độc đáo, tô đậm
được chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
- Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn; chuyên viết về nông thôn và
đời sống của người dân nghèo với ngòi bút đôn hậu và hóm hỉnh. Vợ nhặt
truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân; kết thúc truyện đặc sắc, khắc sâu được chủ đề
tư tưởng của tác phẩm.
0,5
2. Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Chí Phèo (2,0 điểm)
- Ý nghĩa nội dung (1,0 điểm):
+ “Cái lò gạch cũ” vốn là nơi Chí Phèo bị bỏ rơi lúc lọt lòng, giờ đây khi Chí
Phèo vừa chết lại xuất hiện trong ý nghĩ của thị Nở ở kết thúc truyện, đã gợi ra
được sự quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền sống
lương thiện của người nông dân.
0,5
+ Kết thúc truyện thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: đồng cảm với
nỗi thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ
phong kiến, trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ.
0,5

- Ý nghĩa nghệ thuật (1,0 điểm):
+ Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu
cuối tương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn của thân phận Chí Phèo, giúp tô đậm
chủ đề tư tưởng: cuộc đời Chí Phèo tuy kết thúc nhưng tấn bi kịch Chí Phèo sẽ
vẫn còn tiếp diễn.
0,5
+ Kết thúc truyện vừa khép vừa mở dành nhiều khoảng trống cho người đọc tưởng
tượng và suy ngẫm, tạo ra được dư âm sâu bền đối với sự tiếp nhận.
0,5
3. Về ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt (2,0 điểm)
- Ý nghĩa nội dung (1,0 điểm):
+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra
cảnh ngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai
đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.
0,5
+ Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng
niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm
tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.
0,5
- Ý nghĩa nghệ thuật (1,0 điểm):
+ Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối,
đó là tương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng
lạc quan chung của câu chuyện.
0,5
+ Đây là kiểu kết thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc
sống được mô tả trong toàn bộ câu chuyện; dành khoảng trống cho người đọc suy
tưởng, phán đoán.
0,5
4. Về sự tương đồng và khác biệt của hai kết thúc truyện (0,5 điểm)
- Tương đồng: Hai kết thúc truyện cùng phản ánh hiện thực tăm tối của con người
trước Cách mạng tháng Tám; cùng góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của mỗi
nhà văn; cùng là những kết thúc có tính mở, giàu sức gợi.
- Khác biệt: Kết thúc truyện Chí Phèo phản ánh hiện thực luẩn quẩn, bế tắc của
người nông dân lao động, được thể hiện qua kết cấu đầu cuối tương ứng hàm ý
tương lai sẽ chỉ là sự lặp lại của hiện tại; kết thúc truyện Vợ nhặt phản ánh xu
hướng vận động tất yếu của số phận con người, được thể hiện qua kết cấu đối lập
hàm ý tương lai sẽ mở lối cho hiện tại.
0,5
3.b
Cảm nhận về hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình
trong đoạn thơ của bài Tràng giang
5,0
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Huy Cận là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới; hồn thơ luôn khao khát, lắng
nghe sự hòa điệu giữa lòng người với tạo vật; một phong cách thơ hiện đại mà
thấm đượm nhiều yếu tố cổ điển; giàu chất suy tưởng, triết lí.
- Tràng giang là bài thơ xuất sắc, được in trong tập Lửa thiêng, rất tiêu biểu cho
“nỗi buồn sông núi” của Huy Cận; trong đó hình ảnh tạo vật thiên nhiên thấm đẫm
tâm trạng của cái tôi trữ tình, vừa tiêu biểu cho thời đại Thơ mới vừa phảng phất
phong vị cổ điển.
0,5

2. Hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình (4,5 điểm)
- Hình ảnh tạo vật thiên nhiên (1,5 điểm):
+ Hình ảnh trung tâm là dòng tràng giang - một tạo vật thiên nhiên trường cửu, vô
biên, rợn ngợp với nỗi buồn mênh mang, bất tận.
0,5
+ Không gian thơ mở ra với tất cả các chiều hướng bao la, bát ngát của vũ trụ.
+ Thiên nhiên quạnh vắng, vạn vật cách rời, chia lìa: sự vật nhỏ bé thì mong manh
trôi dạt giữa mênh mông sóng nước; tạo vật to lớn thì trơ trọi, lạc lõng; không
gian chiều hôm thiếu vắng mọi âm thanh sự sống.
0,5
0,5
- Tâm trạng của nhân vật trữ tình (1,5 điểm):
+ Cái tôi cô đơn thấu cảm được sự nhỏ bé, bơ vơ trong vũ trụ rộng lớn.
+ Cái tôi lạc lõng cảm thấy mình trôi dạt trong thời gian, lưu lạc trong dòng đời.
+ Tâm trạng ẩn chứa nỗi sầu nhân thế, thời thế, vừa tiêu biểu cho cái tôi thời đại
Thơ mới vừa mang khí vị Đường thi.
0,5
0,5
0,5
- Nghệ thuật (1,5 điểm):
+ Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính; thi liệu vừa mới mẻ vừa cổ điển.
+ Phép đối ngẫu trong kết cấu, phép tương phản trong mô tả sự vật được sử dụng
nhuần nhuyễn, linh hoạt.
+ Ngôn từ có sự phối thanh nhịp nhàng; hệ thống từ láy hòa hợp với nhịp thơ đăng
đối tạo nên âm điệu trầm buồn, trôi chảy triền miên.
0,5
0,5
0,5
Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những
yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể
từng câu cần dựa vào bản hướng dẫn chấm kèm theo.
- Hết -

Đề-Gợi ý môn Văn Khối D ( ĐH 2012)

By Anonymous →


ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
Môn: NGỮ VĂN; Khối: D
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?
Câu 2. (3,0 điểm)
Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa.
Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu của phần riêng  (câu 3.a hoặc 3.b)
Câu 3.a. Theo Chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
            Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)
Cảm nhận của anh/ chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm) Cảm nhận của anh /chị về hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ sau:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11 Nâng cao,
Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.49)
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu 1: Thí sinh cần làm rõ hai ý :
            * Hoàn cảnh Mị nhìn thấy :
            - Hằng đêm Mị thức thật khuya và trở dậy thật sớm để hơ lửa, kể cả sau những lần bị A Sử đánh.
            - A Phủ để hổ ăn mất bò nên bị thống lí Pá Tra trói vào cột. Mị nhìn thấy nhưng cô vẫn thản nhiên.
            - Đến đêm thứ ba thì Mị nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ và Mị đã xúc động.
            * Ý nghĩa của sự việc nói trên đối với tâm trạng của Mị :
            - Hình ảnh một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ là một hình ảnh thương tâm có nhiều ý nghĩa – giọt nước mắt lặng lẽ của một người đàn ông khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cứng cỏi đang trở nên tiều tụy trong một xã hội mà đàn ông là người có vai trò tuyệt đối quan trọng. Chính vì vậy, nó đã làm Mị xúc động.
            - Sự việc nói trên đã khơi mở nguồn mạch nhân ái vốn tiềm ẩn trong tâm hồn Mị. Nó đã làm sống lại trong tâm hồn Mị nhiều cảm xúc và suy nghĩ : nó làm Mị nhớ lại thảm cảnh của bản thân; thương thân nên Mị thương cho hoàn cảnh của A Phủ; căm giận sự độc ác của cha con thống lí Pá Tra; thấy việc A Phủ phải chịu, sẽ phải chết là một điều bất công phi lý.
- Sự việc này đã dẫn Mị đi tới một hành động tự phát nhưng rất táo bạo, hợp lý: cởi trói cho A Phủ và chạy trốn theo A Phủ để giải phóng cuộc đời mình khỏi những bất công đau khổ.
Câu 2: Thí sinh cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản của câu hỏi: Viết một bài văn ngắn (khoảng 660 từ) với nội dung trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến được nêu trong đề bài. Sau đây là một vài ví dụ cụ thể :
·        Mở bài: Đặt vấn đề: Con người sinh ra được giáo dục để sống có ích, làm những điều tốt đẹp và hướng thượng. Thần tượng chính là một nét đẹp đầy hào quang và cao thượng để con người chiêm ngưỡng, tôn thờ và phấn đấu. Tuy nhiên, có nhiều người đã ngưỡng mộ thần tượng một cách mê muội và quên cả những nét đẹp chân chính, thiên liêng khác. Chính vì vậy, có người đã đưa ra ý kiến: “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa, nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa”
·        Thân bài:
+ Giải thích: Thế nào là thần tượng? Thế nào là văn hóa? Thế nào là ngưỡng mộ thần tượng? Thế nào là nét đẹp văn hóa? Thế nào là mê muội thần tượng. Thế nào là một thảm họa?
+  Lý lẽ:
_ Thần tượng là một hình ảnh đẹp mà con người yêu mến, ngưỡng mộ và tôn thờ. Sự ngưỡng mộ thần tượng đã trở thành thói quen tập quán qua nhiều thế hệ, và hơn nữa, ngưỡng mộ thần tượng chính là một nét đẹp văn hóa của loài người.Có một thần tượng để chúng ta ngưỡng mộ và phấn đấu giúp chúng ta sống tốt hơn, đam mê hơn, yêu đời hơn và nỗ lực hơn. Nhiều người cùng ngưỡng mộ một thần tượng tốt có thể chia sẻ với nhau về sở thích, niềm vui và làm phong phú hơn đời sống tinh thần, làm con người cảm thấy gần gũi nhau hơn và thương yêu nhau hơn.
_ Tuy nhiên, có những hiện tượng tôn thờ thần tượng đến mê muội không phân biệt rõ đúng sai. Ví dụ như, có những người hôn cả đôi giày của thần tượng, và hôn cả chỗ ngồi của thần tượng, cũng như những hành động lố bịch khác xuất phát từ sự mê muội thần tượng. Có người mê muội đến nổi, có những việc làm sai của thần tượng cũng cho  là đúng. Từ đó dẫn đến những hành động sai trái, và hậu quả có thể làm mất nhân cách của chính mình. Và có những hành động gây nguy hiểm cho đồng loại. Có những người mê muội trước những thần tượng xa xôi mà quên đi những tình cảm thân thương, thiêng liêng bên cạnh mình, như cha mẹ, thầy cô, bạn bè. Sự mê muội thần tượng là một thảm họa, là sự xói mòn về đạo đức, là sự chạy theo những nét đẹp phù phiếm và hư ảo, bỏ quên những nét đẹp chân thật và những tình cảm thiêng liêng; quên những nhiệm vụ cụ thể và đơn giản của một con người bình thường.
_ Dẫn chứng.
                  + Mở rộng:
      _ Nếu không khắc phục được những hiện tượng này, xã hội càng ngày càng trở nên băng hoại về đạo đức và sự vô cảm càng ngày càng trở nên phổ biến.
      _ Những hiện tượng trên là nhát dao cứa vào lương tâm của những người Việt Nam có đạo đức, là nỗi đau dai dẳng cho thế hệ cha anh.
                  + Liên hệ thực tế:
_ Chúng ta khuyến khích và thông cảm những người ngưỡng mộ thần tượng một cách chính đáng và chừng mực. Coi việc ngưỡng mộ thần tượng một cách chân chính là một nét đẹp văn hóa cần được tôn trọng và duy trì.
_ Đồng thời, chúng ta phải kiên quyết lên án những kẻ mê muội thần tượng. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng sự mê muội thần tượng là một hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi. Do đó, chúng ta phải đủ bản lĩnh và kiên trì đấu tranh với những hiện tượng sai trái này.
·        Kết bài: Khẳng định rằng, ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa cần thiết cho tất cả mọi người và mê muội thần tượng là một thảm họa cần phải đấu tranh để hạn chế. Ý kiến trên là một lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta hãy tự nhìn lại mình, hiểu hơn chính mình và những thần tượng của mình; từ đó, có những suy nghĩ và hành động đúng đắn hơn
II. PHẦN RIÊNG
Câu 3a.
I. GIỚI THIỆU: tác giả, tác phẩm
- Nam Cao và Kim Lân là hai  trong những cây bút hiện thực xuất sắc trong đời sống văn học hiện đại Việt Nam, đều viết thành công về đề tài người nông dân.
- Chí Phèo và Vợ nhặt là hai thiên truyện khắc họa tình trạng thê thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên kết quả cuối cùng có những bước ngoặc khác nhau: Một bên là những ám ảnh đen tối; một bên là hình ảnh gợi nhiều hy vọng.
II. NỘI DUNG (Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo các ý sau đây).
1.      Nêu khái niệm nhân đạo trong văn học.
2.      Cảm nhận hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” qua sự ám ảnh của thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo.
a.       Khái quát nội dung tác phẩm Chí Phèo.
b.      Tóm tắt cuộc đời đầy bi kịch của người nông dân Chí Phèo
c.       Ý  nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” không người qua lại.
-         Nỗi ám ảnh về sự đen tối và bế tắc của người nông dân trong xã hội bất công khi chưa có ánh sáng cách mạng. Ở đó tình trạng người nông dân bị bọn cường hào ác bá đẩy vào “bước đường cùng”. Người nông dân lương thiện bị bỏ rơi như đứa bé từng bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ.
-         Nông thôn Việt Namngày ấy tan hoang chẳng khác gì cái lò gạch bị bỏ hoang.
-         Hiện thực đó có ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến trước đã tiếp tay cho bọn ác bá giày xéo nông dân.
-         Thể hiện cái nhìn xót xa của nhà văn đối với tương lai đen tối của người nông dân.
3.      Cảm nhận hình ảnh  “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” thoáng hiện qua tâm trí nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
a.       Khái quát nội dung tác phẩm “Vợ nhặt”
b.      Tóm tắt về cuộc đời nhân vật Tràng.
c.       Ý nghĩa “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”
+ “đám người đói” vẫn đang là hiện thực.
+ “lá cờ đỏ bay phấp phới” gợi ra một thứ ánh sáng cao đẹp là cách mạng sẽ xua tan bóng tối của hiện thực đói khát ấy.
+ Vượt qua hiện thực đen tối của nạn đói, nhân vật có cái nhìn tin tưởng về phía tương lai.
+ Thông điệp ngợi ca cách mạng, bởi chỉ có cách mạng mới có thể mang đưa nhân dân đến bến bờ tươi sáng.
4.      Nhận định chung
a.       Điểm tương đồng
- Truyện ngắn “Chí phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân đều thể hiện ánh nhìn nhân đạo của hai nhà văn đối với đời sống, những mảnh đời bất hạnh trong xã hội cũ.
- Cả hai thiên truyện đều mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc xã hội thực dân, phong kiến, phát xít.
- Cả hai nhà văn đều thể hiện tài năng trong sáng tạo nghệ thuật.
b.      Điểm khác biệt:
Hai chi tiết, hai tác phẩm đã ra đời trong hai giai đoạn khác nhau của văn học: trước và sau Cách mạng tháng Tám. Hai hình ảnh mang hai ý nghĩa khác nhau:
+ Người nông dân trong truyện ngắn Chí Phèo hoàn toàn bế tắc vì không được cách mạng soi sáng.
+ Người nông dân trong truyện ngắn “Vợ nhặt” dạt dào niềm tin vào tương lai vì có hình ảnh cách mạng xuất hiện.
+ Bút pháp: Nam Cao viết theo khuynh hướng hiện thực phê phán; Kim Lân viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa.
III. Kết luận
+ Khắc họa chân thực, sinh động đời sống đáng thương của nhân dân ta.
+ Tố cáo xã hội sâu sắc
+ Tấm lòng của nhà văn
+ Tài năng trong sáng tạo qua những hình ảnh giàu ý nghĩa góp phần nổi bật tư tưởng chủ đề nhân đạo của tác phẩm.
Câu 3b.
I.                         GIỚI THIỆU
-         Huy Cận  là nhà thơ xuất sắc trong phong trào “Thơ mới” 1932 – 1941.
-         Tràng Giang sáng tác năm 1939 – tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám
-         Hai khổ thơ đầu: thiên nhiên cảnh vật và  tâm trạng nhân vật trữ tình đều nhuốm buồn.
II.                NỘI DUNG
(Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng đảm bảo các ý sau nay).
  1. Nêu khái quát về trào lưu “Thơ mới”, để thấy:
+ Thiên nhiên là nơi ấp ủ những cảm xúc trữ tình.
+ Nỗi buồn thế hệ.
  1. Nội dung bài thơ “Tràng giang”
  1. Hình ảnh tạo vật, thiên nhiên ở 2 khổ thơ đầu
-         Bài thơ mở đầu với hình ảnh dòng sông buồn - “tràng giang buồn” và ngoại  cảnh nhuốm nỗi chia li cả thuyền và nước đều “sầu trăm ngả”.
-         Hình ảnh “củi một cành khô” bé nhỏ, gầy guộc trôi dạt “lạc mấy dòng”.
-         Sang khổ hai cảnh vật như được nới rộng đến không gian của “làng xa”; “ chợ chiều” nhưng tất cả đều vắng lặng, quạnh quẽ, bởi làng thì xa vắng; chợ thì đã vãn, chẳng còn đâu tiếng người.
-         Không gian được nới rộng thêm từ chiều dài, rộng lại đến cao thành 3 chiều (nắng xuống, trời lên sâu chót vót) tạo cái ấn tượng thăm thẳm của vũ trụ.
b. Tâm trạng nhân vật trữ tình
-         Hình ảnh “tràng giang buồn” ẩn dụ cho dòng đời buồn.
-         Hình ảnh con người trở nên bé nhỏ, bơ vơ trước không gian bát ngát.
-         Tâm trạng nhân vật trữ tình như trải ra và cùng buồn như từng lớp sóng “điệp điệp” miên man không dứt.
-         Hình ảnh “củi một cành khô: là hình  ảnh đời thực, gửi gắm nỗi ưu tư của tác giả  giả về thân phận con người giữa tràng giang bát ngát của cuộc đời trong xã hội cũ.
-         Hình ảnh “con thuyền” và “mái nước” song song nghĩa là cứ đi bên nhau và không gặp nhau gợi nỗi niềm chia ly. Đó cũng chính là tâm trạng nhân vật trữ tình mang nỗi niềm ưu tư ngay trên quê hương, đất nước mình mà chẳng tìm thấy đâu bóng dáng quê hương. Bởi vì thi nhân đang sống trong cảnh đất nước nằm trong tay thực dân.
3. Nhận định chung
- Đề tài, cảm hứng mang nỗi sầu vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước không gian bát ngát của tạo vật.
- Chất liệu thi ca với nhiều hình ảnh quen thuộc được gợi từ thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu) ; cũng có những hình ảnh, âm thanh được gợi ra từ đời thường, không ước lệ (cành củi khô, tiếng vản chợ chiều,…)
- Từ hình ảnh thơ ấy đã bộc lộ cái tôi trữ tình nay ưu tư và lạc loài.
III. KẾT LUẬN
-         Tràng giang không chỉ là bức tranh phong cảnh mà còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân.
-         Hai khổ thơ đậm phong vị thi ca cổ điển và hiện đại giàu sự sáng tạo mang dấu ấn xúc  cảm của tác giả trước thời đại.

                                                                                       Lý Tú Anh, Phan Thị Thanh
                                                                                       THPT Vĩnh Viễn – TPHCM 

Thi thử TN THPT TP.HCM 2008-2009

By Anonymous →
Đề thi thử 2008-2009 TPHCM MÔN : NGỮ VĂN Thời gian làm bài : 150 phút

( không kể thời gian giao đề)

********
I/ PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH ( 5,0 điểm)

Câu 1 (2 điểm) :

Nêu vắn tắt những chặng đường thơ của Tố Hữu.


Câu 2 (3 điểm) :

Viết một văn bản nghị luận ngắn( khoảng 01 trang giấy thi)

bàn về tình trạng bạo lực học đường hiện nay.


II/ PHẦN RIÊNG (5.0 điểm):

Thí sinh học chương trình nào thì làm câu dành riêng cho chương trình đó.

Câu 3a (5 điểm): Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn

Phân tích đoạn đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

G ục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

N hớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

( Trích “ Tây Tiến”, Quang Dũng, SGK Ngữ văn 12, tập 1)



Câu 3b (5 điểm ): Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao

Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm mùa xuân “ Mị muốn đi chơi” … và trong cảnh cô cắt dây trói cứu A Phủ. Nhận xét về sức sống tiềm tàng của Mị qua hai cảnh đó.

( Trích “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 2)



----------------


HƯỚNG DẪN CHẤM

( Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)

I. Hướng dẫn chung

- Đề bài gồm 3 câu, theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT: câu 1 kiểm tra kiến thức văn học; câu 2 là bài nghị luận xã hội; câu 3 là bài nghị luận văn học. Câu 1 chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức nhưng cũng có yêu cầu về diễn đạt và lập luận. Chỉ những HS diễn đạt trôi chảy, đúng chính tả, ngữ pháp mới được điểm tối đa. Câu 2 và câu 3 là bài làm văn, tích hợp kiểm tra cả kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, kĩ năng lập luận của HS.

- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm một cách máy móc.

- Do sử dụng đồng thời hai bộ sách giáo khoa nên giám khảo cần linh hoạt trong việc vận dụng đáp án. Không buộc học sinh phải trả lời đúng theo cách diễn đạt của bộ sách nào.

- Nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí; không yêu cầu quá cao đối với mức điểm 9, 10; khuyến khích những bài làm có ý riêng, sáng tạo, văn viết có cảm xúc…

- Chỉ làm tròn điểm toàn bài (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0)

II. Đáp án và thang điểm


A. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH

Câu 1: (2 điểm) :

1/ Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể trình bày khác nhau song cần có các ý sau:

- Các chặng đường thơ Tố Hữu cũng là những chặng đường cách mạng của dân tộc, Tố Hữu có 7 tập thơ, chia thành 5 chặng đường sáng tác.

- Tập Từ ấy ( 1937-1946), gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng.

- Tập Việt Bắc (1947-1954) là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp.

- TậpGió lộng ( 1955-1961) là tiếng hát ca ngợi cách mạng , ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH trên miền Bắc và nỗi đau khi nghĩ đến miền Nam…

- Tập Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977) là bản anh hùng ca chống Mỹ và tự hào về đất nước, về cách mạng …

- Tập Một tiếng đờn ( 1992) và Ta với ta (1999) là những chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người sau bao thăng trầm biến động của cách mạng, của thế giới…

2/ Cho điểm

- Điểm 2,0: Đáp ứng các yêu cầu về nội dung. Diễn đạt tốt. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.

- Điểm 1,0: Trình bày được khoảng nửa số ý. Còn mắc một số lỗi chính tả, ngữ pháp.

- Điểm 0,0: Chỉ viết vài câu rời rạc, không rõ nội dung, không làm bài.

Lưu ý: Đáp án đưa ra 6 ý nhỏ; bài làm trọn vẹn 5 ý có thể cho tròn 2.0 điểm

Giám khảo xác định các mức điểm cụ thể. Không yêu cầu học sinh viết đúng các cụm từ dùng trong đáp án, miễn là học sinh nắm được nội dung tác phẩm. Sai lỗi chính tả, ngữ pháp tuỳ mức độ trừ từ 0.25đ đến 0.5đ…)

Câu 2 : (3 điểm)

a/Yêu cầu :

Về nội dung:

- Học sinh có thể giới thiệu vấn đề từ nhiều góc độ, nhưng phải nêu được vấn đề tình trạng bạo lực học đường đang trở nên phổ biến khiến dư luận xã hội quan tâm, báo động.

- Giải thích khái niệm bạo lực học đường : cách úng xử, giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng nảy sinh trong học tập, sinh hoạt trong nhà trường giữa học sinh bằng bạo lực…Học sinh có thể nêu ví dụ làm rõ.

- Nguyên nhân của tình trạng trên: việc giáo dục đạo đức học sinh, thanh thiếu niên ở nhiều gia đình, trong nhà trường bị buông lỏng; nhiều giá trị đạo đức bị xói mòn trong cơ chế kinh tế thị trường; tình trạng bế tắc, mất phương hướng trong một bộ phận giới trẻ… Nêu một vài dẫn chứng làm rõ lập luận.

- Cách giải quyết tình trạng bạo lực học đường.

- Suy nghĩ của bản thân trong việc giải quyết các mâu thuẫn trong đời sống…

Về kĩ năng:

- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận về các vấn đề xã hội, biết nêu vấn đề, giải thích, chứng minh, đánh giá vấn đề; từ đó rút ra bài học cho bản thân.

- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.

b/Cho điểm:

- Điểm 3: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Văn viết trôi chảy. Chấp nhận một vài lỗi nhỏ.

- Điểm 2: Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; biết tìm dẫn chứng làm rõ lập luận.Văn viết trôi chảy; có thể mắc 3- lỗi chính tả, ngữ pháp .

- Điểm 1: Không rõ lập luận, không biết giải thích khái niệm, giải thích không chính xác; không có dẫn chứng; bài làm sơ sài,; có trên 4 lỗi chính tả, ngữ pháp.

- Điểm 00 : Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.



B/ PHẦN RIÊNG:

Câu 3a: Dành cho thí sinh học chương trình Chuẩn

a/ Yêu cầu

Về nội dung :

Bài làm cần có các nội dung chính sau :

- Giới thiệu được những nét cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời, chủ đề của tác phẩm. Giới thiệu đoạn thơ cần phân tích.

- Phân tích cảnh thiên nhiên Tây Bắc và Thượng Lào hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội và những cuộc hành quân đầy gian khổ nhưng rất đáng tự hào của đoàn quân Tây Tiến.

- Cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang dã được gợi lên bởi những địa danh xa lạ : Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu; những hình ảnh dị thường; những từ ngữ giàu tính gợi hình; những câu thơ nhiều thanh trắc đọc lên nghe nhọc nhằn vất vả như leo núi: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm - Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”.

Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến không chỉ hiểm trở vì đèo cao thác sâu mà còn nguy hiểm vì lắm thú dữ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

- Tuy nhiên, giữa vùng rừng núi xa xôi hiểm trở ấy vẫn có những thung lũng trải rộng, những bản làng êm đềm Những âm hưởng tạo nên bởi các từ : ơi, chơi vơi, hơi, khơi..., những câu nhiều thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”; Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”..đem lại những cảm giác êm đềm và gợi lên những vùng không gian rộng, những bản làng thanh bình…

- Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong những cuộc hành quân liên miên nơi núi rừng, dù chỉ thấp thoáng nhưng chân thực, cảm động. Đó là “đoàn quân mỏi”, nhưng oai hùng. Có những chiến sĩ kiệt sức, “ gục lên súng mũ” nhưng cái chết của họ nhẹ nhàng như giấc ngủ “ bỏ quên đời” vì họ tình nguyện ra đi và hiến thân cho tổ quốc.

- Cuối đoạn thơ, hình ảnh “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ” gợi lên một nét đẹp trong tâm hồn tâm hồn tinh tế lãng mạn của các chiến sĩ Tây Tiến

- Học sinh cần chỉ ra vài nét tiêu biểu về nghệ thuật trong đoạn thơ và bài thơ: bút pháp lãng mạn; hình ảnh sống động, độc đáo, từ ngữ chính xác giàu chất tạo hình. Giọng thơ linh hoạt: khi hào hùng rắn rỏi, khi uyển chuyển mềm mại, tinh tế…

Về kĩ năng :

- Học sinh nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận phân tích một đoạn thơ

- Bài làm có bố cục rõ ràng ; diễn đạt mạch lạc ; ít mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.

b/ Biểu điểm :

- Điểm 5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên ; kĩ năng giảng bình tốt, văn viết trôi chảy, có cảm xúc ; không mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp (1-2 lỗi).

- Điểm 4 : Đáp ứng yêu cầu ở mức khá; giải thích từ ngữ, hình ảnh hợp lí, văn viết khá trôi chảy; có thể mắc 3-4 lỗi chính tả, ngữ pháp .

- Điểm 3 : Hiểu nội dung đoạn thơ. Trình bày được khoảng nửa số ý. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.

- Điểm 2 : Không nắm vững nội dung đoạn thơ, giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ sơ sài, thiếu nhiều ý ; mắc nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.

- Điểm 1 : Không nắm vững tác giả, tác phẩm; hiểu sai nội dung đoạn thơ; không biết giảng bình từ ngữ, hình ảnh thơ…Bài viết có nhiều lỗi các loại.

- Điểm 0.0: Để giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng không rõ ý.

Câu 3b (5 điểm) : Dành cho thí sinh học chương trình Nâng cao

. a/ Yêu cầu:

Về nội dung:

Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải có các nội dung cơ bản sau:

- Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm; giới thiệu nhân vật…

- Nêu vắn tắt diễn biến tâm trạng Mị từ lúc về làm con dâu trừ nợ nhà thống lí (“ đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc” và định ăn lá ngón tự tử. Thương cha, Mị không đành lòng chết, phải quay về sống ở nhà thống lí. Mị như cái xác không hồn. “Ngày càng không nói, lúc nào cũng cúi đầu và mặt buồn rười rượi, sống lặng lẽ cô đơn lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Mị coi mình như con trâu con ngựa, chỉ biết ăn cỏ và đi làm…)

- Bề ngoài cam chịu nhưng sức sống của Mị vẫn luôn tiềm tàng, chỉ cần có điều kiện nó sẽ bùng lên mạnh mẽ.

- Trong đêm mùa xuân, tiếng sáo gọi bạn tình đã làm Mị thiết tha bổi hổi, đã đánh thức tâm hồn Mị, làm trỗi dậy lòng ham sống, khát vọng tự do, tình yêu, hạnh phúc. Từ ý thức đến hành động, Mị đã uống rượu và uống ừng ực từng bát. Mị muốn đi chơi và đã chuẩn bị đi chơi. Mị, quấn lại tóc, rút áo và lấy váy hoa. Khi bị A Sử trói đứng vào cột, Mị vẫn còn sống với những khao khát cháy bỏng, vẫn dõi theo những cuộc chơi, những đám chơi, vẫn bồi hồi theo tiếng sáo… Rõ ràng ở Mị vẫn muốn sống, sức sống ở Mị vẫn mãnh liệt.

- Sức sống trong Mị càng mãnh liệt qua chi tiết Mị cởi trói giải thoát cho A Phủ và cũng là cởi trói thoát đời mình.

Ban đầu Mị dửng dưng trước cảnh A Phủ bị trói đứng mấy ngày mấy đêm "A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Nhưng trong ánh lửa bập bùng trong đêm, Mị trông thấy được một dòng của A Phủ, Mị chợt nhớ nỗi đau đời mình. Thương thân rồi thương người; rồi căm thù "Chúng nó thật độc ác”. “Người kia việc gì phải chết thế”.

Sự đồng cảm, lòng căm thù, cũng như nhận thức được sự bất công, vô lí đã thắng mọi sự sợ hãi dẫn đến hành động táo bạo, Mị cắt dây trói cứu A Phủ. Đúng lúc ấy khao khát sống bừng lên trong Mị, Mị chạy theo, cùng trốn đi vơí A Phủ.

Rõ ràng trong bất hạnh, người lao động vẫn luôn có sức sống bền bỉ, một khát vọng hạnh phúc lớn lao, hễ gặp cơ hội thuận lợi sức sống đó, khát vọng đó lại trỗi dậy mạnh mẽ. Sau cùng, khát vọng hạnh phúc đã chiến thắng .

Về kỹ năng:

- Biết làm bài văn nghị luận văn học; kiểu bài phân tích một nhân vật văn học trong thể loại truyện ngắn.

- Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt. Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp

b/ Cho điểm:

- Điểm 5 : Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Văn viết có cảm xúc. Diễn đạt rõ ràng. Có thể còn một vài sai sót nhưng không đáng kể.

- Điểm 4: Đáp ứng cơ bản các yêu cầu trên. Hướng triển khai ý hợp lý. Có thể còn vài ba sai sót nhỏ.

- Điểm 3 : Nắm được nội dung tác phẩm, cuộc đời nhân vật. Trình bày được khoảng nửa số ý, ít dẫn chứng. Văn viết chưa thật trôi chảy. Khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả.

- Điểm 2: Chưa hiểu kỹ đề, bài viết quá sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt. Bài làm không rõ lập luận. Có quá nhiều lỗi nhỏ.

- Điểm 1 : Học sinh không nắm được tác phẩm, sai nhiều kiến thức cơ bản, bài làm không hoàn chỉnh; văn chưa thành câu.

- Điểm 0: Học sinh không làm bài hoặc chỉ viết một vài câu rời rạc, không thành ý

Thi TN THPT 2007-Lần 2

By Anonymous →
Đề I
Câu 1 (2 điểm): Trình bày những nét chính về cuộc đời của nhà văn Hêminguê. Kể tên hai tác phẩm tiêu biểu của ông.
Câu 2 (3 điểm): Cảm nhận của anh, chị về hình tượng trăng trong tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu.
Câu 3 (5 điểm): Anh, chị hãy phân tích đoạn thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
(Trích chương V, trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm, Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 248)
ĐỀ II
Câu 1 (2 điểm): Tóm tắt ngắn gọn tác phẩm Một con người ra đời của Măcxim Gorki.
Câu 2 (3 điểm): Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau trong bài Đất Nước của Nguyễn Đình Thi:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
(Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 87)
Câu 3 (5 điểm): Số phận và khát vọng sống của người phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại. Anh, chị hãy làm sáng tỏ nội dung trên qua hai tác phẩm: Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Mùa lạc của Nguyễn Khải.
-----------------------------
Gợi ý làm bài (Tham khảo)
Đề 1:
Câu 1: Những nét chính về cuộc đời của nhà văn Hêminguê:
Hêminguê sinh tại bang Illinois nước Mỹ trong gia đình trí thức (cha là bác sĩ, mẹ là nghệ sĩ dương cầm). Học xong bậc phổ thông trung học ra làm báo.
Trong thế chiến thứ I, nhập ngũ, chiến đấu ở Ý rồi giải ngũ, về Mỹ viết tiểu thuyết lên án chiến tranh. Thế chiến III, làm phóng viên quân đội Mỹ rồi qua Pháp tham gia du kích Pháp chống phát xít Đức. Sau chiến tranh qua sống ở CuBa, trở thành bạn thân của chủ tịch Fidel Castro. Được nhận giải Nobel văn chương năm 1954. Cuối đời về Mỹ, ông tự tử tại tiểu bang Idaho năm 1961.
Hai tác phẩm tiêu biểu của ông: Giã từ vũ khí, Ông già và biển cả (hoặc Chuông gọi hồn ai)

Câu 2:
Nhan đề “Mảnh trăng cuối rừng” gợi lên hình ảnh thơ mộng, mỏng manh, xa xôi nơi cuối rừng. Hình tượng trăng nói lên vẻ đẹp thanh cao trong trẻo của tình yêu trong thời chiến. Hình tượng trăng là nét đẹp lung linh trong tâm hồn của Nguyệt.
- Câu chuyện tình thời chiến được lồng dưới ánh trăng đã trở nên trữ tình hơn. Hình ảnh của người chiến sĩ lái xe tên Lãm và cô thanh niên xung phong tên Nguyệt đẹp như chuyện cổ tích.
- Hình tượng ánh trăng đầy biến động và bất trắc như cuộc đời, như chiến tranh và tình yêu: “Mảnh trăng… tái ngắt… chập chờn lay động, có lúc rơi tõm xuống khoảng tối mịt mù của cánh rừng già như một trò chơi ú tim”.
- Ánh trăng là hình tượng, là tính cách, là niềm tin, là tình yêu, là tâm hồn của Nguyệt.
- Hình tượng trăng đã giúp tác giả có được cảm hứng lãng mạn, tạo nên hình tượng nghệ thuật độc đáo. Ánh trăng cuối rừng là nét đẹp, là khát vọng của cả một thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh.
Câu 3:
Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong những năm chống Mỹ.
Trong thơ của ông nổi bật lên sự tự ý thức của tuổi trẻ về vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu và sự tự ý thức sâu sắc về đất nước, về nhân dân.
a) Đoạn thơ về Đất nước bắt đầu một cách rất bình dị, tạo một sự gần gũi, thân thiết . Đất nước ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta, từ lời kể chuyện của người mẹ, miếng trầu của bà, các phong tục tập quán quen thuộc (tóc mẹ thì bới sau đầu) cho đến tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo ta ăn hàng ngày, cái kèo cái cột trong nhà… Tất cả những điều đó làm cho Đất nước trở thành cái gần gũi, thân thiết, bình dị trong cuộc sống hằng ngày của con người:
“Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa …” mẹ thường hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”.
b) Tác giả cảm nhận về Đất Nước bằng cái nhìn tổng hợp nhiều; chiều dài của thời gian lịch sử, chiều rộng của không gian địa lý và chiều sâu của truyền thống văn hóa…
Tác giả sử dụng sáng tạo các yếu tố của ca dao, truyền thuyết dân gian, tạo nên hình tượng thơ mới, vừa gần gũi vừa mới mẻ (cha mẹ thương nhau bằng rừng cay muối mặn…)
c) Đất nước kết tinh, hóa thân trong những sản phẩm đời thường như cái kèo cái cột và hạt gạo với sự gắn bó trong quá trình lao động để sinh tồn.
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Những gì đẹp đẽ còn lại hôm nay là cả không gian mênh mông và thời gian đăng đẳng của một dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kiên trì nhẫn nại gắn bó trong lao động. Đất Nước đã có từ ngày đó.
Thành công của đoạn thơ trên là việc tạo ra một một giọng điệu, một không gian nghệ thuật riêng. “Đất nước” đưa ta vào thế giới gần gũi của ca dao, truyền thuyết, của văn hóa dân gian nhưng lại mới mẻ. Đó chính là nét đặc sắc thẩm mỹ, thống nhất với tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, của ca dao thần thoại.

Đề II
Câu 1:
“Một đứa con ra đời” của M. Gorki kể về mùa thu năm 1892 ở Miền Nam nước Nga nghèo khổ, có đoàn người thất nghiệp, đói khổ, đi tìm việc. Có một người phụ nữ trẻ, chồng vừa chết, mang thai sắp sinh nở. Có người con trai xa lạ, vui tính, tốt bụng, thương người thấy chị ta rớt lại phía sau đang lên cơn đau đẻ dữ dội và đã không ngần ngại làm “bà đỡ”.
Người đàn bà vượt qua cơn đau, ngượng nghịu nhưng sung sướng khi đứa con trai kháu khỉnh ra đời, chị quên hết âu lo, tin tưởng con mình sẽ sống yên vui, tự do. Như có sức mạnh diệu kì, một con người ra đời đã khiến cho người mẹ, anh thanh niên tự hào, tin tưởng sẽ vượt qua mọi gian nan của cuộc sống.

Câu 2:
Đất Nước của Nguyễn Đình Thi là đất nước đau thương và anh dũng trong kháng chiến chống Pháp. Hình ảnh thơ có tính điển hình cao, rất cụ thể nhưng rất khái quát. Từ chất liệu thực tế đã xây dựng một hình tượng nghệ thuật độc đáo! Những cánh đồng quê chảy máu chính là hình ảnh bi hùng của Việt Nam trong thời chiến. Dây thép gai đâm nát trời chiều là một hình ảnh diễn tả nỗi đau lớn lao và sâu sắc của cả một dân tộc thiếu độc lập và tự do. Dây thép gai là hình tượng của bạo lực làm tan nát cả bầu trời đẹp đẽ, tự do và những mơ ước thanh bình.“Cánh đồng quê chảy máu”là nỗi đau vật chất; “Dây thép gai đâm nát trời chiều” là nỗi đau tinh thần.
- Trong đau thương và mất mát, người trai phải hành quân đêm ngày với lòng nung nấu quyết tâm giành lại những cánh đồng quê thanh bình và bảo vệ bầu trời quê hương xanh trong, êm ả.Hình ảnh người lính hành quân với lòng nung nấ là biểu tượng của đất nước anh hùng.
Trong tình chung là đất nước, chút tình riêng len lỏi bồn chồn trong tâm hồn người lính. Hình tượng đặc trưng để nhớ ở đây là đôi mắt người yêu. Có lẽ đôi mắt của người ở lại luôn dõi theo bước chân người lính và trong trái tim người lính không chỉ là đôi mắt mà tràn ngập tình yêu thủy chung của người Việt Nam: “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.
Câu 3:
Yêu cầu chung: Thí sinh biết cách làm bài phân tích nhiều tác phẩm để làm sáng tỏ một nhận định văn học. Bài làm có kết cấu chặt chẽ, dẫn chứng thích hợp .
Gợi ý cụ thể:
Trong nền văn xuôi hiện đại, nhiều tác phẩm đã phản ánh số phận và khát vọng sống của người phụ nữ Việt Nam. Dù người phụ nữ dân tộc ở miền núi trong lòng xã hội phong kiến cũ như Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, hay ở miền xuôi sau ngày hoà bình lặp lại ở miền Bắc như Đào trong truyện ngắn Mùa Lạc, họ đều có số phận bi thảm và mang một khát vọng sống thật mãnh liệt.
Phân tích 2 tác phẩm để làm sáng tỏ:
a. Nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ:
* Số phận nghèo khổ, cảnh làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lí
- Vì cha mẹ không trả nổi nợ vay thống lí làm đám cưới lúc trẻ nên Mị phải làm dâu trả nợ.
- Mị thành một nô lệ bị đoạ đày, bị hành hạ, bị tước hết mọi quyền sống nên không còn ý thức, sống như cái xác không hồn.
- Vì thương bố Mị “quen trong cái khổ” an phận làm trâu ngựa và luôn bị ám ảnh bởi thần quyền: “Ta về trình ma nhà nó rồi chỉ biết đợi ngày rũ xương ở đây”.
* Khát vọng sống tiềm tàng mãnh liệt:
- Tiếng sáo và “những đêm tình mùa xuân” đánh thức sức sống tiềm tàng mãnh liệt, cái giấc mộng lứa đôi, một thời Mị khao khát. Cô nhớ quá khứ, sống trong quá khứ, cô quên đi thực tại phũ phàng và con người tự do, ham sống ngày nào hành động để đáp ứng nó.
- Cái lòng ham sống bị đánh thức của đêm xuân này vẫn còn một thế năng để cho “tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”
- Đặc biệt, khát vọng sống của Mị được thể hiện mạnh mẽ trong đêm cởi trói cho A Phủ.
- Mị cởi trói cho A Phủ và đặt mình phải lựa chọn con đường chạy theo A Phủ hay là được trói đứng như ngày nào cho đến chết. Thời điểm hệ trọng này “con ma” cũng không đủ sức giữ chân Mị lại, Mị cứu A Phủ là tự cứu mình mà cô đã không biết.
b. Nhân vật Đào trong tác phẩm Mùa Lạc của Nguyễn Khải:
* Số phận lầm than:
- Đào là người phụ nữ: “lấy chồng từ năm mười bảy tuổi, nhưng chồng cờ bạc nợ nần bỏ nhà đi” sau đó chồng trở về, Đào có người con trai hai tuổi thì chồng chết. Sau đó đứa con cũng mất, không nơi nương tựa, không người thân thích, Đào phải bươn bả để kiếm sống, không còn chút hi vọng gì ở tương lai. Cuộc sống cực nhọc ấy đã tàn phá nhan sắc của chị. Đào “muốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống”.
Quả là thái độ bất cần đời, “bốn bể là nhà, chỉ là thân mình sao cho cơm ngày hai bữa”. Chính vì thế mà “chị sống táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người, và hờn giận cho thân mình” Chính vì thế mà chị “ngang ngược” có những cử chỉ khác thường “tay chống cạnh sườn”, “đứng khuỳnh tay”… Những lời nói và hành động của chị như là một phản ứng hoàn cảnh, bởi chị đã quá lăn lóc, quá cay đắng mùi đời!
- Qua miêu tả ngoại hình và hành động ta thấy hé lên số phận Đào không có gì là bình lặng và suôn sẻ trong quá khứ.
* Khát vọng sống mãnh liệt vượt lên bi kịch số phận của Đào ở nông trường Điện Biên.
- Ngay trong buổi lao động với Huân, đôi nét tính cách của Đào đã được bộc lộ: dù rất mệt, đứng chung máy với một người khỏe trẻ và dẻo dai, nhưng Đào không chịu thua kém thanh niên!
- Người phụ nữ lỡ thời ấy vẫn có khát khao như bao người con gái khác.“Chị muốn quên hết, lại ước ao mình được trẻ lại… một người có quyền được hưởng hạnh phúc như mọi người con gái may mắn khác”
- Đào lên nông trường với tư tưởng buông xuôi, nhưng khi ở với mọi người, nhất là gần Huân, con người luôn cảm thông với số phận của chị. Đào “bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc, lại hy vọng cuộc đời của mình chưa phải đã tắt hẳn,một cái gì chưa rõ nét lắm nhưng đầm ấm hơn, tươi sáng hơn… Cứ lấp loé ở phía trước”.
- Bức thư ngỏ lời của “ông thiếu úy lò gạch” - Dịu - đã đến thật bất ngờ. Đào đã phản ứng như là sự tự vệ của con người luôn mặc cảm sợ người khác nhạo báng và xúc phạm. Thế nhưng sau đó lòng chị “êm đềm” vui sướng kỳ lạ dào dạt không thể nén nổi khiến chị ngây ngất…
Đó là sự “Thức tỉnh nỗi khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc mà chị cố hắt hủi”. Chính hạnh phúc bất ngờ và ngọt ngào ấy đã làm chị phải tâm sự với Huân. Đoạn văn tả cảnh Đào gặp Huân đã cho thấy sự chuyển biến quan trọng trong tính cách của chị “chẳng ai muốn đi vất vưởng mãi, ai cũng muốn có một quê hương…”
c. Qua hai nhân vật phụ nữ là Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Đào trong Mùa lạc của Nguyễn Khải, dù có hoàn cảnh xã hội khác nhau nhưng họ đều có số phận thật bi thảm, họ chịu đựng một cách nhẫn nhục nhưng không bị khuất phục. Những nhà văn hiện đại Việt Nam đã thắp sáng lên tính cách, tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam dù có những số phận nghiệt ngã, nhưng khát vọng sống mãnh liệt không bao giờ tắt.
---------------------------
GV TRẦN HỒNG ĐƯƠNG (Trung Tâm LT ĐH Vĩnh Viễn - ĐH Sư phạm TP.HCM